Khái quát về thúc đẩy xuất khẩu nông sản

Đinh Hà Uyên Thư 16/01/2020 Tài liệu luận văn khác
  • Khái quát về thúc đẩy xuất khẩu nông sản
    5/5 (1 đánh giá ) 0 bình luận

Trong bài viết dưới đây, tailuanvan.com xin chia sẻ đến bạn nội dung khái quát về thúc đẩy xuất khẩu nông sản. Bao gồm: Khái niệm, quan điểm và nội dung, vai trò và yêu cầu.

 

Khái quát về thúc đẩy xuất khẩu nông sản
Khái quát về thúc đẩy xuất khẩu nông sản

1. Khái niệm, quan điểm và nội dung thúc đẩy xuất khẩu nông sản

1.1. Khái niệm và lợi ích xuất khẩu hàng hóa

Theo Điều 28, Luật Thương mại 2005, xuất khẩu hàng hóa là “việc hàng hóa được đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc đưa vào khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật ”. [70]

Theo lý luận thương mại quốc tế, xuất khẩu là việc bán hàng hóa và dịch vụ cho nước ngoài, trong cách tính toán cán cân thanh toán quốc tế theo IMF (International Monetary Fund) là việc bán hàng hóa cho nước ngoài. Trong tính toán tổng cầu, xuất khẩu được coi là nhu cầu từ bên ngoài. Mức độ phụ thuộc của một nền kinh tế vào xuất khẩu được đo bằng tỷ lệ giữa giá trị nhập khẩu và tổng thu nhập quốc dân. [60]

Đối với những nền kinh tế mà cầu nội địa yếu, thì xuất khẩu có ý nghĩa quan trọng đối với tăng trưởng kinh tế. Chính vì thế, nhiều nước đang phát triển theo đuổi chiến lược công nghiệp hóa hướng vào xuất khẩu. Tuy nhiên, vì xuất khẩu phụ thuộc vào yếu tố nước ngoài, nên để đảm bảo tăng trưởng kinh tế ổn định và bền vững, IMF thường khuyến nghị các nước phải dựa nhiều hơn nữa vào cầu nội địa.

Trên cơ sở các định nghĩa trên tổng quát lại, xuất khẩu: là việc bán hàng ra nước ngoài nhằm phát triển sản xuất, kinh doanh và đời sống. Song việc bán ở đây có những nét riêng, phức tạp hơn bán hàng ở trong nước như giao dịch với những người có quốc tịch khác nhau, thị trường rộng lớn và khó kiểm soát, bán hàng qua trung gian chiếm tỷ trọng lớn, đồng tiền thanh toán là ngoại tệ, hàng hoá phải chuyển qua biên giới, của khẩu của các quốc gia, phải tuân theo tập quán và thông lệ quốc tế cũng như địa phương. XK là một hoạt động cơ bản của ngoại thương, là một vấn đề hết sức quan trọng của kinh doanh quốc tế, là sự phát triển tất yếu của sản xuất và lưu thông nhằm tạo ra hiệu quả kinh tế cao nhất trong mỗi nền kinh tế.

Hoạt động XK diễn ra trên phạm vi toàn cầu, trong tất cả các lĩnh vực, các ngành của nền kinh tế, từ vật phẩm tiêu dùng cho đến tư liệu sản xuất, từ các chi tiết linh kiện nhỏ cho đến các loại máy móc khổng lồ... không chỉ là hàng hoá hữu hình mà cả hàng hoá vô hình với tỷ trọng ngày càng lớn thông qua hoạt động XK có thể làm gia tăng ngoại tệ, tăng thu ngân sách, thúc đẩy kinh tế phát triển, tạo công ăn việc làm, nâng cao đời sống của người dân...[60]

Xuất khẩu là một hoạt động kinh tế đối ngoại cơ bản thông qua đó gắn kết thị trường đơn lẻ của các nước lại với nhau, tăng cường thông thương buôn bán, là phương tiện thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng và phát triển. Sự phát triển của XK là một trong những động lực chính để thúc đẩy phát triển kinh tế của các quốc gia trong thời kỳ hội nhập đặc biệt là các quốc gia đang phát triển như Việt Nam, do đó nó có vị trí và vai trò rất quan trọng.

 

   Xem thêm: Dịch vụ cung cấp tài liệu làm luận văn theo yêu cầu                       

 

 

1.2. Quan điểm và nội dung thúc đẩy xuất khẩu

Trong luận án này, quan điểm và nội dung thúc đẩy xuất khẩu được hiểu qua các khía cạnh sau:

Thúc đẩy XK làm gia tăng quy mô XK: quy mô XK thể hiện mức độ phát triển của doanh nghiệp theo chiều rộng và sự đa dạng hóa XK bao gồm sự đa dạng hóa mặt hàng XK và sự đa dạng hóa thị trường XK, cụ thể: tăng cường sự hiện diện của mặt hàng tại thị trường mới bằng các sản phẩm mới để thu hút thêm khách hàng tăng doanh thu. Tuy nhiên để đảm bảo thành công cho công tác phát triển thị trường lúc này cần phải nghiên cứu thị trường, xác định điều kiện thị trường, đặc điểm khách hàng và nhu cầu khách hàng tại địa bàn mới để đưa ra các chiến lược tiếp cận thị trường phù hợp; Bên cạnh đó, việc đa dạng hóa thị trường, khuyến khích các nhóm khách hàng mới tiêu thụ sản phẩm cần phải hiểu được rõ nhu cầu của khách hàng, điểm mạnh điểm yếu của đối thủ cạnh tranh để có những hoạt động hợp lý trong việc cạnh tranh trên thị trường; đa dạng hoá theo yêu cầu của khách hàng.

Thúc đẩy XK làm thay đổi trình độ và năng lực XK: thể hiện ở sự gia tăng về tốc độ phát triển, tốc độ tăng trưởng kim ngạch, sự chuyển dịch về cơ cấu mặt hàng, cơ cấu thị trường XK, sự khai thác sâu hơn thị trường hiện tại nhằm tăng thêm thị phần trên thị trường. Tạo sự thay đổi trong chất lượng của hoạt động xuất khẩu bằng việc nâng cao chất lượng sản phẩm, thay đổi phương thức xuất khẩu, chuyển dịch cơ cấu sản phẩm xuất khẩu, nâng cao năng lực sử dụng nguồn lực nhằm tạo ra sự phát triển ổn định và thu được giá trị gia tăng lớn hơn bên cạnh đó đảm bảo thực hiện hài hoà việc bảo vệ môi trường và an sinh xã hội. Chất lượng tăng trưởng xuất khẩu thể hiện ở sự chuyển dịch cơ cấu xuất khẩu từ các sản phẩm sử dụng nhiều tài nguyên, lao động rẻ, giá trị gia tăng thấp sang các sản phẩm và dịch vụ tạo ra giá trị gia tăng cao trên cơ sở sử dụng các nhân tố làm tăng năng suất, chất lượng, tiết kiệm các yếu tố đầu vào, hạn chế khai thác tài nguyên không tái tạo. Đó là sự chuyển dịch cơ cấu xuất khẩu theo hướng hiện đại, phù hợp với xu hướng biến động của thị trường thế giới.

Thúc đẩy XK làm nâng cao hiệu quả XK, thể hiện thông qua GTGT của sản phẩm, nâng cao tỷ trọng sản phẩm XK vào tổng kim ngạch XK của nền kinh tế và nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực phục vụ cho phát triển XK. Việc nâng cao giá trị gia tăng không chỉ giúp cho hàng XK cải thiện được tỷ trọng trong chuỗi giá trị toàn cầu mà còn đem lại lợi ích và hiệu quả tác động tích cực nhiều mặt cho nền kinh tế, giúp tăng thu ngoại tệ cho đất nước, nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả sản xuất, kinh doanh của quốc gia, cải thiện thu nhập cho người sản xuất, kinh doanh xuất khẩu, hình thành một nền sản xuất lớn, bền vững ít bị ảnh hưởng bởi các vấn đề bất ổn thị trường, giới hạn nguồn cung khi mà quá trình CNH, HĐH và mức độ đô thị hóa đang diễn ra một cách nhanh chóng.

Thúc đẩy XK hướng tới mục tiêu phát triển bền vững, thể hiện ở việc trồng trọt, canh tác và chế biến sản phẩm gắn với bảo vệ môi trường sẽ góp phần vào quá trình tăng trưởng XK ổn định trong tương lai và ít tác động bởi các yếu tố bên ngoài. Để đảm bảo phát triển xuất khẩu với bảo vệ môi trường cũng cần tính đến nhu cầu về những sản phẩm thân thiện môi trường trên thế giới, đặc biệt là ở những nước nhập khẩu. Nhu cầu về các loại sản phẩm thân thiện môi trường trên thế giới ngày càng cao. Điều này bắt buộc các nhà xuất khẩu phải đáp ứng các quy định và tiêu chuẩn về an toàn và vệ sinh trong sản xuất và trao đổi hàng hóa xuất khẩu. Ngược lại, người tiêu dùng cũng phải thay đổi nhận thức để chấp nhận chi phí môi trường và sẵn sàng hoàn trả chi phí đó. Đây là một vấn đề mâu thuẫn trong sản xuất và trao đổi hàng hóa thân thân thiện môi trường. Mâu thuẫn này thể hiện thông qua việc chấp nhận hay không chấp nhận các chi phí môi trường trong sản xuất và tiêu dùng hàng hóa xuất khẩu.

2. Vai trò và yêu cầu của thúc đẩy xuất khẩu nông sản

2.1. Vai trò

Hiện nay xu thế toàn cầu hoá và hội nhập KTQT diễn ra rất mạnh mẽ và mở rộng trên phạm vi toàn cầu. Hoạt động XK sẽ là cầu nối hết sức quan trọng để đẩy nhanh tiến trình hội nhập. Chính vì vậy mà hoạt động thúc đẩy XK đang ngày càng trở nên quan trọng trong chính sách và Chiến lược phát triển kinh tế của Việt Nam. Với vị trí như trên, thúc đẩy XK đang đóng góp vai trò to lớn trong chiến lược đẩy mạnh hoạt động XK hàng nông sản của Việt Nam, phát triển kinh tế nông nghiệp, tăng trưởng kinh tế bền vững trong tương lai. Các vai trò cụ thể được trình bày dưới đây:

Thúc đẩy XKNS góp phần tạo nguồn vốn cho nhập khẩu phục vụ CNH đất nước.

Trong công cuộc CNH, HĐH đất nước đòi hỏi mỗi quốc gia đang phát triển phải có lượng vốn lớn để từng bước cải tiến kỹ thuật, nhập khẩu máy móc trang thiết bị tiên tiến hiện đại. Để có nguồn vốn nhập khẩu được hình thành từ các nguồn như: XK hàng hoá; đầu tư nước ngoài; vay nợ, viện trợ…Trong đó, XK là nguồn vốn quan trọng nhất, vì nó đem lại ngoại tệ cho quốc gia một cách trực tiếp mà không phải trả vốn như do vay nợ hay viện trợ. Trong thực tiễn, XK và NK có mối quan hệ mật thiết với nhau, vừa là kết quả vừa là tiền đề của nhau. Do đó, vai trò của XKNS trong việc tạo nguồn vốn chủ yếu cho nhập khẩu phục CNH đất nước ngày càng được khẳng định vị trí của mình trong phát triển kinh tế nói chung.[185]

Thúc đẩy XKNS góp phần vào tăng nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, hỗ trợ sản xuất phát triển theo định hướng thị trường và tăng trưởng bền vững.

Xuất khẩu sẽ tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế khác phát triển thuận lợi: thúc đẩy xuất khẩu sẽ cho phép mở rộng quy mô sản xuất, tạo điều kiện để nhiều ngành nghề mới ra đời, gây phản ứng dây chuyền thúc đẩy các ngành kinh tế khác phát triển theo, kết quả là làm tăng tổng sản phẩm xã hội và nền kinh tế phát triển nhanh. Ví dụ, xuất khẩu cà phê sẽ kéo theo sự phát triển các ngành sản xuất và dịch vụ khác như sản xuất bao bì, trồng trọt, vận chuyển…

Xuất khẩu nông sản tạo ra nguồn thu ngoại tệ lớn để nhập khẩu thiết bị và công nghệ tiên tiến góp phần hiện đại hóa kinh tế đất nước, tạo ra năng lực sản xuất mới mạnh mẽ hơn. Đồng thời thông qua xuất khẩu nông sản chúng ta chứng minh được khả năng của Việt Nam về các sản phẩm nhiệt đới, về khả năng hợp tác, liên doanh, liên kết với các đối tác trong sản xuất, kinh doanh. Từ đó tăng thêm niềm tin và sự chủ động trong phát triển kinh tế đất nước.

Thông qua xuất khẩu, các nhà sản xuất trong nước buộc phải cạnh tranh quyết liệt trên thị trường thế giới. Để chiến thắng trong cạnh tranh đòi hỏi chúng ta phải tổ chức lại sản xuất tốt hơn, quản lý và kinh doanh hiệu quả hơn để tăng năng suất lao động, hạ giá thành và nâng cao chất lượng sản phẩm, đáp ứng tốt hơn các đòi hỏi ngày càng cao của thị trường.

Xuất khẩu NS còn là yếu tố quan trọng nhằm phát huy mọi nguồn nội lực, tạo thêm vốn đầu tư để đổi mới công nghệ, tăng thêm việc làm, thúc đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước.

Thúc đẩy XKNS tạo ra tác động tích cực đến việc giải quyết công ăn việc làm và cải thiện đời sống người dân.

Để nắm vững và làm chủ được công nghệ trong quá trình sản xuất, người lao động buộc phải nâng cao trình độ cả lý thuyết và thực hành. Như vậy, thúc đẩy xuất khẩu sẽ có tác động đến việc chuyển dịch cơ cấu lao động cả về tính chất ngành nghề và cả về chất lượng lao động. Đồng thời, với việc thúc đẩy xuất khẩu sẽ góp phần tăng thu nhập của người lao động, tạo điều kiện để họ nâng cao đời sống vật chất, văn hóa và tinh thần. Ngoài ra, một phần kim ngạch xuất khẩu có thể dùng để nhập khẩu hàng tiêu dùng thiết yếu nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng phong phú, đa dạng của đời sống con người. Xuất khẩu nông sản đã và đang đóng vai trò quan trọng trong việc tạo công ăn việc làm, tăng thu nhập cho người nông dân vốn phần lớn đang sống trong nghèo nàn, thiếu thốn, lạc hậu.

2.2. Yêu cầu

Thúc đẩy xuất khẩu nông sản trong thời kỳ hội nhập phải đảm bảo yêu cầu gắn với tăng trưởng bền vững trong bối cảnh thế giới đang có những diễn biến phức tạp, đi liền với đó là sự tác động khó lường từ biến đổi khí hậu, cần tập trung vào một số vấn đề trọng yếu sau:

Thúc đẩy XKNS phải theo kịp quá trình tự do hóa TM toàn cầu: Tự do hóa thương mại là quá trình dỡ bỏ dần dần mọi rào cản đối với thương mại, bao gồm thuế quan và phi thuế quan, trước hết nhằm đạt được sự đối xử công bằng giữa hàng hóa và dịch vụ sản xuất trong nước với hàng hóa và dịch vụ nhập khẩu từ nước ngoài, và sau cùng là đạt được chế độ thương mại tự do.Theo định nghĩa trên, quá trình tự do hóa thương mại đòi hỏi Nhà nước phải xóa bỏ các can thiệp của mình tới thương mại, tạo thuận lợi cho lưu thông hàng hóa và dịch vụ trong một nước và giữa các nước với nhau.

Tự do hóa TM toàn cầu đóng vai trò là nhân tố tác động tích cực đến phát triển quan hệ thương mại quốc tế. Khi tham gia vào quá trình này, các nước đều phải thực hiện mở cửa thị trường, giảm dần và tiến tới xóa bỏ hoàn toàn các rào cản về thuế quan, hạn ngạch nhằm tạo điều kiện đẩy mạnh lưu thông hàng hóa, tiến tới thống nhất thị trường thế giới. Do đó, xu thế tự do hóa thương mại sẽ giúp đẩy mạnh thương mại quốc tế và đặc biệt là hoạt động XK. Các công cụ thuế quan bị giảm dần, giúp cho các quốc gia thành viên của WTO có thể tận dụng hơn nữa được các lợi thế so sánh của mình, nâng cao sức cạnh tranh trên thị trường thế giới.

Hiện nay, Việt Nam là một trong số 80 thành viên của Tổ chức Cà phê quốc tế (ICO), Hiệp định cà phê quốc tế (ICA); Hiệp định Thương mại Thế giới (WTO); Hiệp định thương mại tự do với ChiLe; Hiệp định đối tác kinh tế toàn diện Việt Nam – Nhật Bản; Hiệp định thương mại tự do ASEAN; Hiệp định thương mại tự do ASEAN – Trung quốc; Hiệp định thương mại tự do ASEAN – Hàn Quốc; Khu vự mậu dịch tự do ASEAN – Ấn Độ; Khu vực thương mại tự do giữa các nước ASEAN – Australia và New Zealand và đang đàm phán Hiệp định đối tác kinh tế xuyên Thái Bình Dương; Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam – EU; Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam – Liên minh hải quan Bê-la-rút, Ca-dắc-xtan và Nga; Hiệp định đối tác kinh tế toàn diện khu vực; Hiệp định đối tác kinh tế Việt Nam – Hàn Quốc. Các Hiệp định thương mại tự do song phương và đa phương Việt Nam đã ký kết đã tạo điều kiện cho việc XK cà phê ra thị trường thế giới dần được mở rộng về quy mô và khối lượng XK. Đặc biệt qua việc ký kết các Hiệp định, cà phê của Việt Nam đã xuất khẩu được khối lượng lớn sang EU, Mỹ, Nhật Bản và đang có xu hướng tăng lên tại thị trường Trung Quốc, Hàn Quốc và các nước ASEAN.

Thúc đẩy XKNS phải đảm bảo làm gia tăng hàm lượng tri thức trong các mặt hàng XK

Ngày nay, phần lớn các quốc gia trên thế giới đã chuyển dần từ nền kinh tế công nghiệp sang thời đại của nền kinh tế tri thức, trong đó yếu tố tri thức đã trở thành tư liệu sản xuất quan trọng nhất. Tri thức tạo ra sự bùng nổ về KHCN, tạo ra sự thay đổi về phương thức sản xuất; tri thức đã thay thế cho các yếu tố sản xuất khác như tài nguyên thiên nhiên đang bị khai thác cạn kiệt và các yếu tố hữu hình khác để đóng vai trò chủ đạo trong quá trình sản xuất của thời đại mới; Các sản phẩm được tạo ra trong nền kinh tế tri thức mang những tính chất mới với hàm lượng chất xám và công nghệ cao. Sự phát triển của nền kinh tế tri thức sẽ kéo theo sự thay đổi về xu hướng tiêu dùng hướng tới các sản phẩm công nghệ cao, thân thiện với con người và môi trường, cơ cấu sản xuất và XK hàng hoá của các nước do đó cũng sẽ phải thay đổi theo GTGT đối với mặt hàng cà phê XK là giá trị tăng thêm trên một đơn vị sản phẩm, cải tiến quy trình công nghệ trong sản xuất, chế biến… Việc gia tăng thêm hàm lượng GTGT chính là cùng với một lượng cà phê nhất định phải mang lại kim ngạch cao hơn hay giá trị cao hơn.

Các quốc gia nói chung trong đó có Việt Nam ngày càng chú trọng hơn đến việc nâng cao giá trị đặc biệt là GTGT trong hoạt động XK thay vì tăng về sản lượng như trước đây. Bởi lẽ, sản lượng XK có thể tăng nhưng giá trị XK lại giảm nếu chất lượng mặt hàng XK giảm hay do giá XK thấp. Đây là một thực trạng trong hoạt động XK các mặt hàng nông sản chưa qua chế biến. Vì là XK thô nên giá trị đem lại không nhiều. Mặt khác, nếu chỉ quan tâm đến số lượng XK sẽ ảnh hưởng xấu đến sự phát triển bền vững của nền kinh tế.

Về cơ bản, cơ cấu XK của mặt hàng hiện nay chủ yếu dựa trên nền tảng XK những gì hiện có chứ không phải XK những gì thị trường thế giới cần. Hiện vị trí của Việt Nam trong chuỗi GTGT của toàn cầu vẫn chủ yếu nằm ở khâu khai thác, sản xuất, trồng trọt mà chưa phát triển ở các khâu đem lại nhiều GTGT như nghiên cứu và phát triển (R&D) hay xây dựng thương hiệu. Thực tế là khai thác cà phê nguyên liệu là chủ yếu chứ chưa chú trọng được vào các mặt hàng chế biến. Mặt hàng nguyên liệu hay thô này không đòi hỏi các công nghệ chế biến phức tạp, các kỹ thuật tinh vi trong xử lý, bảo quản và phân phối, cũng chưa đòi hỏi các biện pháp marketing, đây là những mặt hàng có hàm lượng tri thức thấp.

Thúc đẩy XK hàng hóa của Việt Nam ra thị trường thế giới nhằm vào gia tăng kim ngạch, giá trị XK đặc biệt là tăng hàm lượng gia tăng của Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu nên đòi hỏi hải gia tăng hàm hàm lượng tri thức trong cho mặt hàng XK.

Thúc đẩy XKNS phải phù hợp với mục tiêu phát triển kinh tế và gắn với quy hoạch phát triển nền nông nghiệp bền vững.

Quy hoạch ngành nông nghiệp phát triển bền vững gắn với bảo vệ môi trường mang lại nhiều lợi ích và phát triển ổn định, nâng cao chất lượng và giá trị cho các sản phẩm nông nghiệp nói chung và sản phẩm cà phê XK nói riêng, gắn liền việc quy hoạch trồng trọt với công nghiệp chế biến, tiêu thụ và XK sản phẩm. Để thực hiện được điều này đòi hỏi các chính sách phải được xây dựng đồng bộ và định hướng XK cho cà phê phải dựa trên các quy hoạch và chiến lược phát triển của ngành cà phê trong dài hạn.

Nhà nước thực hiện quy hoạch vùng trồng cà phê, theo đó, diện tích trồng cà phê bị thu hẹp, hạn chế tình trạng nông dân phá rừng trồng cà phê, khoan giếng tràn lan, lấy nước tưới cà phê, làm cạn kiệt nguồn nước ngầm; giảm cung cà phê nhằm cải thiện giá cà phê XK; chuyển diện tích đất cà phê sang trồng các nông sản khác có giá trị kinh tế cao hơn và bảo đảm mục tiêu phát triển bền vững.

Thúc đẩy XKNS phải kết hợp các biện pháp thúc đẩy XTTM ở cả tầm vĩ mô và vi mô

Trong điều kiện hiện nay, thương mại quốc tế mở rộng, khối lượng hàng hoá được đưa vào lưu thông càng nhiều; để tiêu thụ khối lượng hàng hóa trong bối cảnh cạnh tranh như ngày nay đòi hỏi Chính phủ Việt Nam phải tiến hành các hoạt động XTTM một cách hữu hiệu cho các thị trường đặc biệt là thị trường XK. Đây là hoạt động đóng vai trò quan trọng tăng tốc độ XK hàng hóa nói chung và mặt hàng cà phê nói riêng đưa lại lợi ích cho quốc gia, lợi ích ngành nông nghiệp và các doanh nghiệp trong khu vực sản xuất kinh doanh.

XTTM tầm vĩ mô là hoạt động của Chính phủ và các Bộ, ngành liên quan nhằm thiết lập mối quan hệ ngoại giao, quan hệ thương mại giữa Việt Nam với các nước về mặt pháp lý, cung cấp thông tin về thị trường trong nước, ngoài nước cho các doanh nghiệp về môi trường pháp luật, CSTM của nước sở tại, các rào cản, hạn ngạch, thuế quan, phi thuế quan; tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp thâm nhập, khảo sát thị trường để thực hiện XK.

Xúc tiến thị trường tầm vi mô là hoạt động của các doanh nghiệp chủ động tìm kiếm thông tin, thăm dò thị trường, thực hiện trực tiếp đàm phán và ký kết các hợp đồng XK, lựa chọn đối tác, xác định giá và các điều kiện cụ thể về giao dịch, mua bán, thanh toán.

Xúc tiến trên tầm vĩ mô và vi mô có quan hệ chặt chẽ, tác động bổ sung cho nhau. Trong đó, xúc tiến vĩ mô là tiền đề, điều kiện để thực hiện xúc tiến thị trường của các doanh nghiệp. Ngược lại, xúc tiến vi mô của các doanh nghiệp tăng cường khả năng xúc tiến, nâng cao uy tín của đất nước, tạo điều kiện hoàn thiện xúc tiến vĩ mô. Do đó thúc đẩy XK cà phê cần kết hợp hài hòa cả hai mức độ này.

3. Chỉ tiêu đánh giá mức độ thúc đẩy xuất khẩu nông sản

Các chính sách nhà nước nói chung và chính sách nhà nước nhằm thúc đẩy xuất khẩu cà phê nói riêng là các công cụ của nhà nước tác động vào ngành hàng cà phê xuất khẩu và giúp tăng trưởng xuất khẩu. Chính vì vậy các chỉ tiêu đánh giá mức độ tác động xuất khẩu sẽ phản ánh một phần hoặc toàn bộ của các chính sách này:

3.1. Quy mô mặt hàng xuất khẩu

Quy mô XK mặt hàng XK được hiểu là độ lớn của mức độ XK thường thể hiện qua các chỉ tiêu hàng năm, để so sánh giữa năm này với năm kia thể hiện sự thay đổi như sau:

Tổng Sản lượng XK hàng năm (t): Tổng Sản lượng XK hàng năm (tính bằng tấn) cho biết số lượng hay khối lượng hàng năm được XK ra thị trường thế giới.

Tổng kim ngạch XK hàng năm: Đo lường trị giá sản lượng XK hàng năm ra thị trường thế giới, thường được tính bằng giá trị đồng đô la theo công thức:

Tổng Giá trị kim ngạch XK = Tổng sản lượng XK x giá bán 1 ĐVXK

Hai chỉ tiêu này được sử dụng đồng thời khi đo lường quy mô XK và đánh giá mức độ tăng trưởng XK người ta so sánh kim ngạch xuất khẩu của 1 năm. Về cơ bản khi tổng sản lượng XK tăng lên thì giá trị XK tăng lên. Tuy nhiên trong nhiều trường hợp, sản lượng XK có thể không tăng nhưng giá trị thì tăng lên do giá trị một đơn vị cà phê XK tăng lên nhờ vào hiệu quả của các chính sách của Nhà nước hoặc biến động cung cầu trên thị trường cà phê thế giới.

Tốc độ tăng trưởng quy mô XK hàng năm(t): Tốc độ tăng trưởng là sự so sánh mức gia tăng của sản lượng hay kim ngạch XK giữa năm này với năm khác. Tốc độ gia tăng được tính theo đơn vị số lần hoặc phần trăm (%).

Công thức:t (%) = Mi/Mt. 100%

Trong đó:

t: Tốc độ tăng trưởng XK hàng năm

Mt: Tổng Giá trị kim ngạch XK năm trước

Mi: Tổng Giá trị kim ngạch XK năm tính toán

Để thấy được kết quả của nỗ lực thúc đẩy XK chỉ tiêu tốc độ tăng trưởng XK bình quân, không chỉ so sánh các chỉ tiêu sản lượng và kim ngạch qua các năm mà còn cần được so sánh với tốc độ tăng trưởng của các mặt hàng khác.

3.2. Cơ cấu và chất lượng mặt hàng XKNS

Thúc đẩy xuất khẩu hàng nông sản không thể tách rời việc nâng cao chất lượng sản phẩm, bởi đây là yếu tố quyết định đến sự tồn tại và phát triển của sản phẩm trên thị trường. Chất lượng hàng nông sản không ngừng được nâng cao sẽ có tác dụng tích cực trong việc nâng cao giá trị và giá trị sử dụng cho sản phẩm, đồng thời nâng cao năng lực cạnh tranh bằng cách tạo ra nhiều yếu tố vô hình như thương hiệu, uy tín. Điều này thực sự rất quan trọng trong việc nâng tầm giá trị doanh nghiệp, tạo lập tên tuổi và thương hiệu thu hút khách hàng.

Mục đích của sự chuyển dịch cơ cấu hàng nông sản xuất khẩu là điều chỉnh sự phát triển xuất khẩu theo hướng bền vững, hiệu quả hơn. Thực tế hiện nay, xu hướng phổ biến của các nước là thay thế xuất khẩu các mặt hàng thô đơn giản, giá trị gia tăng thấp bằng những sản phẩm chuyên sâu đòi hỏi nhiều chất xám và sáng tạo với giá trị gia tăng cao. Sự chiếm lĩnh của mặt hàng XK dưới tác động của các biện pháp thúc đẩy XK còn thể hiện ở sự tương thích của cơ cấu và chất lượng mặt hàng XK theo yêu cầu của các thị trường XK khác nhau.

Cơ cấu mặt hàng XK: là tỷ lệ tương quan giữa các ngành, mặt hàng XK hoặc tỷ lệ tương quan giữa các thị trường XK. Cơ cấu các mặt hàng XK có thể thay đổi qua các năm, thời kỳ, điều chỉnh phù hợp với yêu cầu và đòi hỏi của thị trường XK. Sự chuyển dịch cơ cấu mặt hàng xuất khẩu được biểu hiện qua sự thay đổi tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu của mặt hàng đó trong tổng kim ngạch xuất khẩu.

R (A) = M (A)/ M x 100%

Trong đó           

R(A) : Tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu mặt hàng A

M(A) : Kim ngạch xuất khẩu mặt hàng A

M : Tổng kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng

(2) Chất lượng mặt hàng XK nông sản

Chất lượng mặt hàng XK cho biết mức độ ưa thích và hài lòng của khách hàng trên thị trường, thường thể hiện qua một số yếu tố như:

Giá trị sử dụng, bao gồm cả chất lượng dinh dưỡng, chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm, có tác dụng trực tiếp tới yêu cầu dinh dưỡng, sức khỏe, tính mạng của người tiêu dùng.

Các tiêu chuẩn chất lượng theo chuẩn mực, theo tiêu chuẩn ISO quốc tế…

Các tiêu chuẩn theo quy định của WTO và các tiêu chuẩn của các nước. Ví dụ: dư lượng kháng sinh và chất bảo vệ thực vật trong sản phẩm XK, các quy định về môi trường an toàn lương thực, thực phẩm.

3.3. Chỉ tiêu đo lường sức cạnh tranh mặt hàng xuất khẩu trên thị trường 

Hệ số RCA do nhà kinh tế học Balassa đề xuất năm 1965 để đo lường lợi thế so sánh theo số liệu XK, chỉ ra KNCT trong XK của một quốc gia về một sản phẩm trong mối tương quan với mức XK về sản phẩm đó của thế giới.

RCA = (Xij / Xi) / (Wj / W)

Trong đó:

RCA: lợi thế so sánh biểu hiện mặt hàng XK j của quốc gia i

Xij: kim ngạch XK sản phẩm j của nước i

Xi: tổng kim ngạch XK của nước i

Wj: kim ngạch XK sản phẩm j của thế giới

W: tổng kim ngạch XK của thế giới

Kết quả tính toán:

RCA<1: sản phẩm xem xét không có KNCT

1<RCA<2,5: sản phẩm có lợi thế cạnh tranh thấp

RCA>2,5: sản phẩm có lợi thế cạnh tranh cao

Khi so sánh hệ số RCA của cùng mặt hàng của hai nước thì nước nào có hệ số RCA lớn hơn sẽ có lợi thế XK cao hơn.

3.4. Mức độ tăng trưởng thị trường xuất khẩu

Như đã phân tích ở trên, thúc đẩy XK chính là việc mở rộng thị trường XK cả về chiều rộng và chiều sâu nên mức độ tăng trưởng thị trường thể hiện qua thị phần và sức hấp dẫn thị trường đều là các chỉ tiêu phản ánh độ lớn của các nỗ lực này

(1) Thị phần XK: Thị phần là phần thị trường mà mặt hàng XK quốc gia chiếm được trên thị trường XK thế giới. Đây là chỉ tiêu phản ánh đúng đắn nhất sự tăng trưởng và mở rộng của hoạt động thúc đẩy XK

Về lý thuyết thị phần XK được đánh giá dựa vào tổng kim ngạch XK của quốc gia trên tổng kim ngạch XK toàn thế giới. Trong thực tế khái niệm thị phần mang tính cạnh tranh và thị phần XK cần được đo lường trên phạm vi riêng lẻ của từng thị trường quốc gia nhập khẩu. Do đó chỉ tiêu này được đo bằng tỷ lệ doanh thu so với các đối thủ cùng XK mặt hàng vào một thị trường hay căn cứ vào giá trị hàng hóa XK vào một thị trường nào đó so với đối thủ cạnh tranh. Công thức tính Thị phần XK:

MS = VMA/Mx 100%

Trong đó:

MS là thị phần của mặt hàng

VMA Sản lượng được bán trên thị trường XK x

M là tổng sản lượng cùng loại được tiêu thụ trên thị trường XK x

Độ lớn của chỉ tiêu này phản ánh khả năng chiếm lĩnh của quốc gia trên thị trường. Đó cũng là chỉ tiêu thể hiện lợi thế của mặt hàng XK. Mặt hàng có thị phần càng lớn trên một thị trường nào đó thì mặt hàng đó càng có lợi thế cạnh tranh, thuận lợi cho hoạt động thúc đẩy XK. Ngược lại, một mặt hàng có thị phần nhỏ hay giảm sút trên thị trường thì cho thấy khó phát huy được lợi thế cạnh tranh, khó tăng trưởng XK hay mức tăng trưởng XK thấp.

(2) Sức hấp dẫn của thị trường xuất khẩu thể hiện khả năng sinh lời của một thị trường XK. Nếu một thị trường có quá nhiều đối thủ cạnh tranh hoặc thu hút nhiều đối thủ cạnh tranh mới hay các nhà sản xuất cung ứng gây sức ép với mặt hàng XK… thì thị trường đó không mấy hấp dẫn; thị trường sẽ khó hấp dẫn nếu người mua có quyền thương lượng lớn hay ngày càng cao, người mua gây sức ép đòi hỏi chất lượng cao hơn, các dịch vụ bán hàng nhiều hơn nhưng không muốn tăng giá, thậm chí còn muốn hạ giá.

Sức hấp dẫn là chỉ tiêu mang tính định tính nhiều hơn và cho biết khả năng nên triển khai các biện pháp thúc đẩy XK mặt hàng tại thị trường nào sẽ đạt kết quả cao hơn. Thị trường càng hấp dẫn hoạt động thúc đẩy XK càng thuận lợi. Trong trường hợp ngược lại các nỗ lực thúc đẩy XK sẽ khó khăn và hao tổn nhiều hơn về nguồn lực

(3) Chỉ số chuyên môn hóa xuất khẩu (ES-Export specialization index)

Chỉ số chuyên môn hóa XK được đo bằng cách so sánh tỷ trọng XK ngành hàng đó trong cơ cấu XK của một nước và tỷ trọng nhập khẩu ngành hàng đó trong cơ cấu nhập khẩu của một nước khác. Ý nghĩa của Chỉ số này cho biết thị trường đang xem xét liệu có phải là thị trường tiềm năng hay không.

Chỉ số TI của một ngành được đo bằng cách so sánh thị phần XK của nước XK tới nước nhập khẩu và thị phần XK của thế giới tới nước nhập khẩu của ngành hàng đó. Chỉ số này cho biết liệu luồng thương mại ngành hàng đó giữa hai nước đã tương xứng với tiềm năng thương mại của hai nước hay chưa.

Công thức tính:

TI = (Mce/Mci)/(Mwej/Mci)

Trong đó:

Mce: Thị phần XK của Việt Nam ngành hàng

Mci: Thị phần nhập khẩu của quốc gia nhập khẩu ngành hàng

Mwe: Thị phần XK của thế giới XK ngành hàng

Mci: Thị phần XK của quốc gia nhập khẩu ngành hàng

Nếu TI>1 tức là Mce/Mci> Mwe/Mci: cho biết XK của nước XK vào nước nhập khẩu lớn hơn mức XK trung bình của thế giới đến nước nhập khẩu.

Nếu TI<1 tức là Mce/Mci< Mwe/Mci: cho biết XK của nước XK vào nước nhập khẩu nhỏ hơn mức XK trung bình của thế giới đến nước nhập khẩu.

Các chính sách của nhà nước cũng như các biện pháp thúc đẩy XK của doanh nghiệp sẽ tác động tới mức tăng trưởng XK và có thể lượng hóa qua các chỉ tiêu trên.

nhận ngay bộ tài liệu tham khảo phù hợp nhất với bạn

Hotline: 0912 309 689
Đinh Hà Uyên Thư Bạn hãy tham khảo website https://tailuanvan.com để rõ hơn công việc của tôi nhé !
Bình luận đánh giá
Đánh giá

Chat với chúng tôi qua zalo