Khái quát chung về giải quyết tranh chấp trong kinh doanh quốc tế

Đinh Hà Uyên Thư 24/12/2019 Kinh tế
  • Khái quát chung về giải quyết tranh chấp trong kinh doanh quốc tế
    5/5 (1 đánh giá ) 0 bình luận

Trong bài viết sau đây, tailuanvan.com xin chia sẻ đến bạn những nội dung khái quát về giải quyết tranh chấp trong kinh doanh quốc tế.

 

Khái quát chung về giải quyết tranh chấp trong kinh doanh quốc tế

1. Tranh chấp là gì?

Trong nền kinh tế thị trường, các nhà kinh doanh có quan hệ kinh tế thương mại rất chặt chẽ và khăng khít với nhau. Họ đều muốn xây dựng lòng tin, duy trì các mối quan hệ kinh tế, thương mại với các đối tác lâu dài nhằm đảm bảo cho hoạt động kinh doanh, thương mại của họ được ổn định và phát triển. Tuy nhiên, đôi khi, vì nhiều lí do chủ quan và khách quan khác nhau, các mối quan hệ kinh tế, thương mại giữa các nhà kinh doanh cũng có những bất đồng và mâu thuẫn, dẫn đến các tranh chấp kinh tế, thương mại.

Để hiểu thế nào là tranh chấp kinh tế, thương mại cần phải hiểu rõ khái niệm tranh chấp. Tranh chấp là sự xung đột, mâu thuẫn, tranh giành quyền lợi giữa hai hay nhiều chủ thể tham gia vào một quan hệ pháp luật mà trong quá trình tranh giành đó, ai cũng cho rằng mình là đúng, lợi ích của mình cần được bảo vệ.

Khi các chủ thể tham gia vào các quan hệ do pháp luật điều chỉnh, những mâu thuẫn, bất đồng giữa họ thường phát sinh từ, hoặc có liên quan đến việc thực hiện nghĩa vụ của một bên, khi mà bên kia, hoặc cho rằng mình có quyền yêu cầu bên này phải làm một nghĩa vụ để tạo ra một lợi ích cho mình, hoặc cho rằng những thiệt hại mà mình phải gánh chịu là do lỗi của bên này... trong khi bên này lại không cho là như vậy.

Tranh chấp xảy ra trong mọi mối quan hệ xã hội. Tranh chấp là một hiện tượng khách quan, nó tồn tại ngoài ý thức của các chủ thể. Xã hội ngày càng phát triển, mối quan hệ xã hội ngày càng phức tạp, do đó, tranh chấp phát sinh cũng ngày càng nhiều và phức tạp. Có thể nói, tranh chấp gắn với hoạt động xã hội loài người và yêu cầu đặt ra là phải tìm ra cơ chế giải quyết những tranh chấp ấy.

2. Tranh chấp thương mại

Mặc dù tranh chấp xảy ra trong mọi mối quan hệ xã hội, có thể là tranh chấp trong chính trị, ý thức hệ, nhân sinh quan, văn hóa, khoa học, kinh tế, thương mại... Nhưng loại hình tranh chấp phổ biến nhất là tranh chấp về kinh tế, tranh chấp xảy ra trong hoạt động thương mại. Cũng có thể nói đa số các tranh chấp phát sinh đều có mối liên quan chặt chẽ đến lợi ích kinh tế, đến lợi nhuận trong các hoạt động kinh tế nói chung và hoạt động thương mại nói riêng.

Tranh chấp thương mại có thể là tranh chấp giữa các quốc gia hoặc tranh chấp giữa các chủ thể kinh doanh. Trong giới hạn của khóa luận này, người viết chỉ nghiên cứu về tranh chấp thương mại phát sinh giữa các chủ thể kinh doanh. Đó là các tranh chấp thương mại liên quan đến hoạt động của các doanh nghiệp - là tranh chấp trong kinh doanh.

Tranh chấp thương mại là tranh chấp phát sinh từ hoặc có liên quan đến các hoạt động thương mại. Vậy hoạt động thương mại là gì? Khái niệm này được hiểu khác nhau tùy từng nước khác nhau, phụ thuộc vào nhận thức về thương mại cũng như về trình độ phát triển của nền kinh tế.

Trước đây, hoạt động thương mại được hiểu là hoạt động mua và bán hàng hóa hữu hình nhằm mục đích thu lợi nhuận. Cho đến nay, khái niệm này đã được mở rộng ra cả với khu vực dịch vụ - hàng hóa vô hình. Tổ chức thương mại thế giới (WTO) cho rằng hoạt động thương mại là tất cả các hoạt động nhằm mục đích thu lợi nhuận, bất kể đó là hàng hóa, dịch vụ hay sở hữu công nghiệp, đầu tư... Chính vì vậy, WTO đã mở rộng phạm vi điều chỉnh của mình sang các lĩnh vực dịch vụ, sở hữu trí tuệ, đầu tư với việc ban hành các Hiệp định đa biên như GATT (thương mại hàng hóa), GATS (thương mại dịch vụ), TRIPS (các khía cạnh thương mại liên quan đến sở hữu trí tuệ), TRIMS (các khía cạnh thương mại liên quan đến đầu tư).

Việt Nam, khái niệm hoạt động thương mại cũng được hiểu khác nhau theo từng thời kỳ. Nói cách khác, khái niệm này được xem xét ở trạng thái động, được hiểu theo nghĩa ngày càng rộng hơn. Luật Thương mại Việt Nam năm 1997 quy định: “hoạt động thương mại là việc thực hiện một hay nhiều hành vi thương mại của thương nhân, bao gồm việc mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ thương mại và các hoạt động xúc tiến thương mại khác nhằm mục đích thu lợi nhuận hoặc nhằm thực hiện các chính sách kinh tế, xã hội. Dịch vụ thương mại gồm những dịch vụ gắn với việc mua bán hàng hóa. Xúc tiến thương mại là hoạt động nhằm tìm kiếm, thúc đẩy cơ hội mua bán hàng hóa và cung ứng dịch vụ thương mại” (Điều 5 Khoản 2). Đây là một khái niệm về hoạt động thương mại hẹp. Nằm trong phạm vi được coi là hoạt động thương mại, được Luật Thương mại năm 1997 điều chỉnh chỉ bao gồm hành vi. Đến năm 2005, Luật Thương mại của Việt Nam đã mở rộng hơn nội hàm của khái niệm hoạt động thương mại bằng quy định: “hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác” (Điều 3 Khoản 1). Đây là một sự đổi mới vượt bậc trong cách hiểu về khái niệm hoạt động thương mại, phù hợp với cách hiểu của Luật mẫu UNCITRAL: “Khái niệm thương mại cần phải được giải thích theo nghĩa rộng, bao gồm các vấn đề phát sinh từ tất cả các quan hệ có bản chất thương mại, dù có hợp đồng hay không có hợp đồng. Quan hệ có bản chất thương mại bao hàm nhưng không chỉ giới hạn đối với các giao dịch sau đây: bất kỳ giao dịch buôn bán nào nhằm cung cấp hoặc trao đổi hàng hóa hay dịch vụ, hợp đồng phân phối đại diện thương mại hay đại lý, các công việc sản xuất, thuê máy móc thiết bị, xây dựng, tư vấn thiết kế cơ khí, li-xăng, đầu tư, ngân hàng, tài chính, bảo hiểm, các hợp đồng khai thác hoặc chuyển nhượng, liên doanh và các hình thức khác của hợp tác công nghiệp hoặc kinh doanh, vận tải hàng hóa hoặc hành khách bằng đường hàng không, đường biển, đường sắt hoặc đường bộ” (Điều 1 Luật mẫu UNCITRAL).

3. Tranh chấp trong kinh doanh quốc tế

Trong thực tế, ở phạm vi trong nước người ta không phân biệt khái niệm tranh chấp thương mại với khái niệm tranh chấp trong kinh doanh. Nguyên nhân chủ yếu là do không có sự phân biệt rõ giữa khái niệm kinh doanh và thương mại. Ở một số nước, có sự đồng nhất cách hiểu về hai khái niệm này.

Pháp luật Việt Nam hầu như đồng nhất hai khái niệm kinh doanh và thương mại: đó là các hoạt động của doanh nghiệp nhằm mục đích thu lợi nhuận. Tranh chấp thương mại và tranh chấp trong kinh doanh là những tranh chấp gắn liền với hoạt động kinh doanh - thương mại của doanh nghiệp.

Do không có sự phân định hai khái niệm kinh doanh và thương mại nên khi đưa ra những loại hình tranh chấp thuộc thẩm quyền xét xử của trọng tài thương mại, Pháp lệnh trọng tài Thương mại Việt Nam 2003 cho rằng hoạt động thương mại là hoạt động của các cá nhân, tổ chức kinh doanh mà xét về mặt bản chất, đó cũng là hoạt động của doanh nghiệp. Điều 2 Khoản 3 Pháp lệnh trọng tài Thương mại Việt Nam 2003 quy định: "hoạt động thương mại là việc thực hiện một hay nhiều hành vi thương mại của cá nhân, tổ chức kinh doanh, bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, phân phối, đại diện, đại lý thương mại, ký gửi, thuê, cho thuê, thuê mua, xây dựng, tư vấn, kỹ thuật, li-xăng, đầu tư, tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, thăm dò, khai thác, vận chuyển hàng hóa, hành khách bằng đường hàng không, đường biển, đường sắt, đường bộ và các hành vi thương mại khác theo quy định của pháp luật".

Tuy nhiên, ở phạm vi quốc tế, các hoạt động thương mại lại được tiếp cận khác. Ở phạm vi quốc tế, các mối quan hệ xã hội phát sinh thường và chủ yếu được chia thành hai nhóm quan hệ: Nhóm quan hệ xã hội phát sinh giữa các quốc gia với nhau và nhóm quan hệ xã hội phát sinh giữa các doanh nghiệp với nhau. Tranh chấp thương mại quốc tế là những tranh chấp phát sinh giữa các quốc gia với nhau khi các quốc gia tiến hành hoạt động thương mại ở phạm vi quốc tế, còn tranh chấp trong kinh doanh quốc tế là những tranh chấp phát sinh giữa các doanh nghiệp, các công ty ở các nước khác nhau với nhau khi các doanh nghiệp, công ty này thực hiện các hoạt động kinh doanh, thương mại.

4. Tranh chấp trong kinh doanh quốc tế là tranh chấp chủ yếu liên quan đến hoạt động của các thương nhân trong thương mại quốc tế

Thương nhân là một khái niệm khá quen thuộc trong pháp luật thương mại của các nước có nền kinh tế thị trường nhưng lại còn rất xa lạ đối với những nước có nền kinh tế kế hoạch hóa, bao cấp.

Ở các nước có nền kinh tế thị trường phát triển, đặc biệt là ở Mỹ, Pháp, Đức... thương nhân là một thuật ngữ, một từ dùng để chỉ những người mà hoạt động của họ mang hai đặc điểm. Thứ nhất, ký kết các hợp đồng thương mại và tiến hành các hoạt động kinh doanh khác một cách thường xuyên nhằm mục đích thu lợi nhuận. Thứ hai, nhân danh bản thân mình để thực hiện các hoạt động kinh doanh đó, nghĩa là, thương nhân là những người hoạt động kinh doanh độc lập.

Việc đưa ra khái niệm thương nhân là rất quan trọng bởi thương nhân sẽ chịu quy chế quản lý riêng. Quy chế quản lý thương nhân được đưa ra nhằm tạo điều kiện cho thương nhân hoạt động thuận lợi hơn, đồng thời cũng đưa ra những điều kiện ràng buộc thương nhân, bảo vệ những người không phải là thương nhân.

Thương nhân có thể là cá nhân hoặc tập thể. Trong một số trường hợp Nhà nước cũng được coi là một thương nhân đặc biệt.

Các thương nhân là cá nhân chính là các tự nhiên nhân hay còn gọi là các thể nhân mà với tư cách là chủ sở hữu một xí nghiệp, hoạt động như các nhà kinh doanh, các nhà buôn riêng lẻ. Thông thường họ tiến hành kinh doanh những hoạt động không đòi hỏi phải có một số vốn lớn. Còn các pháp nhân là các thương nhân tập thể, thường tồn tại dưới hình thức là các hội, các công ty, các hãng kinh doanh khác nhau và là chủ sở hữu của một hoặc một số doanh nghiệp.

Tuy nhiên, không phải bất kì cá nhân hay tập thể nào đều có thể trở thành thương nhân. Để được thừa nhận là thương nhân, cần phải thỏa mãn một số điều kiện nhất định do Pháp luật từng nước đưa ra. Theo các nước phương Tây, có hai điều kiện: điều kiện liên quan đến con người và điều kiện liên quan tới công việc, tới hoạt động, nghề nghiệp của người đó.

Về điều kiện liên quan tới con người, luật pháp của hầu hết các nước đều có quan điểm tương đối thống nhất: thương nhân phải là những người có năng lực hành vi và năng lực pháp luật. Tuổi có năng lực hành vi do luật của từng nước quy định khác nhau.

Về điều kiện liên quan tới hoạt động của thương nhân, luật pháp của các nước quy định không giống nhau.

Luật của Nhật quy định thương nhân là “một người nhân danh bản thân mình tham gia vào các giao dịch thương mại như một nhà kinh doanh”. Theo quy định này thì một thương nhân tham gia vào việc mua bán với một cửa hàng hoặc một hình thức tương tự hoặc một người tiến hành kinh doanh về hầm mỏ cũng được coi là thương nhân.

Luật của Mỹ quy định thương nhân là những người “thực hiện nghiệp vụ với những hàng hóa thuộc chủng loại nhất định hoặc thực hiện những nghiệp vụ bằng cách khác nhau nào đó và xét về tính chất nghiệp vụ của mình, họ được coi như là những người có kiến thức hoặc có kinh nghiệm đặc biệt trong những nghiệp vụ hoặc đối với những hàng hóa là đối tượng của các hợp đồng thương mại”.

Luật của Pháp quy định thương nhân là tất cả những người ký hợp đồng thương mại, thực hiện các hợp đồng thương mại và coi việc ký và thực hiện các hợp đồng thương mại đó là nghề nghiệp thường xuyên của mình. Từ khái niệm trên luật Thương mại Pháp đưa ra 3 tiêu chuẩn:

  • Thực hiện các hành vi, các hoạt động thương mại
  • Nhân danh bản thân mình để thực hiện các hành vi thương mại đó, với tư cách là một người độc lập
  • Coi đó là nghề nghiệp thường xuyên của mình

Từ 3 tiêu chuẩn này, Bộ luật Thương mại Pháp liệt kê ra một danh mục dài những hành vi được coi là hành vi thương mại. Cũng từ 3 tiêu chuẩn trên, luật Thương mại Pháp không thừa nhận những người làm một số nghề nhất định là thương nhân.

Luật Thương mại Việt Nam năm 2005 quy định “thương nhân bao gồm tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp, cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên và có đăng ký kinh doanh”, trong đó hoạt động thương mại được hiểu là “hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác”.

5. Các phương thức giải quyết tranh chấp trong kinh doanh quốc tế

5.1. Giải quyết tranh chấp bằng thương lượng trực tiếp giữa các bên

Thương lượng là một phương thức giải quyết tranh chấp theo đó các bên đang tranh chấp với nhau sẽ trực tiếp thương lượng để giải quyết tranh chấp. Nếu thương lượng thành công thì đồng nghĩa với việc giải quyết được tranh chấp đã phát sinh.

Thương lượng trực tiếp giữa các bên là phương thức giải quyết tranh chấp thường được áp dụng. ưu điểm của phương pháp này là: các bên có thể giải quyết tranh chấp một cách nhanh gọn, ít tốn kém; các bên tranh chấp có thể tập trung vào vấn đề chính của việc giải quyết tranh chấp, tránh được những vấn đề mang tính thủ tục, hình thức; bảo vệ được uy tín, vị thế của các nhà kinh doanh cũng như giữ được bí mật kinh doanh cho các bên; giữ được hòa khí, mối quan hệ hữu hảo giữa các bên.

Thương lượng trực tiếp có thể được tiến hành bằng cách hai bên trực tiếp gặp nhau để thỏa thuận thương lượng hoặc trao đổi thông qua thư từ, các phương tiện truyền thông dưới hình thức khiếu nại và trả lời khiếu nại.

Thương lượng bằng cách hai bên trực tiếp gặp gỡ nhau khi có tranh chấp phát sinh. Khi gặp nhau hai bên đều có thể bộc lộ ý định của mình một cách thẳng thắn, nêu hết được ý kiến của mình, nắm bắt và thấu hiểu được nguyện vọng của bên kia và do đó các bên có thể giải quyết được tranh chấp. Tuy nhiên, thương lượng bằng cách gặp nhau trực tiếp thường rất tốn kém chi phí và thời gian. Vì vậy, các bên thường lựa chọn cách này khi có điều kiện thuận lợi và đối với những tranh chấp phức tạp, có giá trị lớn hoặc sau khi thương lượng bằng khiếu nại và trả lời khiếu nại chưa đạt được kết quả.

Thương lượng bằng cách khiếu nại và trả lời khiếu nại (được gọi ngắn là khiếu nại). Thông thường, bên bị vi phạm gửi đơn khiếu nại kèm theo các chứng từ làm bằng chứng cho bên vi phạm và bên vi phạm trả lời đơn khiếu nại đó. Khi tiến hành khiếu nại bên vi phạm, bên bị vi phạm cần chú ý đến hai thủ tục pháp lý không thể thiếu là Đơn khiếu nại và thời hạn khiếu nại. Trong thực tế các bên thường tiến hành khiếu nại trước khi đi kiện ra tòa hoặc trọng tài và khiếu nại là bắt buộc khi trong hợp đồng có quy định. Khi đó khiếu nại sẽ là cơ sở cho tòa án hoặc trọng tài chấp nhận đơn kiện để xét xử. Khiếu nại có ý nghĩa rất lớn trong hoạt động kinh doanh quốc tế, khiếu nại kịp thời bảo vệ quyền lợi cho bên khiếu nại, góp phần đảm bảo cho quá trình kinh doanh bình thường của các nhà kinh doanh quốc tế. Mặt khác, thông qua khiếu nại và giải quyết khiếu nại có thể đánh giá được sự thiện chí, uy tín của đối phương, từ đó đưa ra quyết định về giao dịch sau này giữa hai bên.

5.2. Giải quyết tranh chấp qua khâu trung gian

Giải quyết tranh chấp qua khâu trung gian là việc các bên thống nhất chọn ra một người thứ ba - người trung gian (thường là các chuyên gia, những người có kiến thức, am hiểu, cả hai bên đều biết) có chức năng như một nhà ngoại giao con thoi với nhiệm vụ tìm ra điểm tới hạn mà hai bên tham gia trong vụ tranh chấp đều có thể chấp nhận được. Ở đây không có sự gặp gỡ tay ba giữa các bên và người trung gian - người thứ ba mà người thứ ba sẽ họp với từng bên, lắng nghe và phân tích cho các bên để các bên có thể đi đến một điểm nút chung mà các bên chấp nhận để giải quyết tranh chấp.

5.3. Giải quyết tranh chấp trong kinh doanh quốc tế bằng hòa giải

Hòa giải là phương pháp giải quyết tranh chấp giữa các bên đương sự thông qua người thứ ba gọi là hòa giải viên.

Khi có tranh chấp phát sinh mà chưa thương lượng hoặc thương lượng không được thì bất kỳ bên nào cũng có quyền đề nghị giải quyết tranh chấp bằng hòa giải và giới thiệu hòa giải viên. Nếu bên kia đồng ý thì hai bên cùng chọn hòa giải viên. Hòa giải viên được các bên chọn ra sẽ điều khiển quá trình hòa giải. Hòa giải có thể được tiến hành bằng hai cách: Một là, các bên tự thỏa thuận với nhau về hòa giải, cùng nhau chỉ định hòa giải viên và tiến hành hòa giải không bắt buộc phải tuân theo nguyên tắc hòa giải nào. Hai là, các bên thỏa thuận hòa giải theo quy tắc hòa giải của tổ chức nghề nghiệp hoặc tổ chức trọng tài nào đó, ví dụ, hai bên có thể thỏa thuận tranh chấp sẽ được hòa giải theo quy tắc hòa giải của Phòng Thương mại Quốc tế ICC.

Hòa giải là không bắt buộc và các bên có thể bỏ qua bước hòa giải và đưa ngay tranh chấp ra tòa án hay trọng tài thương mại giải quyết. Nhưng nếu hợp đồng có quy định tranh chấp trước hết được giải quyết bằng thương lượng và hòa giải thì hòa giải cũng trở thành bắt buộc.

Hòa giải không phương hại đến quyền kiện ra tòa án hay trọng tài thương mại. Nếu hòa giải không thành công thì bên có quyền lợi bị vi phạm đương nhiên vẫn có quyền đưa tranh chấp ra giải quyết tại tòa án hay trọng tài.

Chức năng của hòa giải viên là đọc kỹ vụ tranh chấp, nghiên cứu pháp luật có liên quan từ đó soạn thảo ra một khuyến nghị về cách thức giải quyết tranh chấp và chuyển nó thành thỏa thuận giải quyết tranh chấp rồi gửi cho hai bên. Trong thỏa thuận không được kết luận bên nào đúng, bên nào sai. Sau khi cả hai bên đồng ý, bản thỏa thuận này sẽ trở thành thỏa thuận giữa hai bên.

Trong phương thức giải quyết tranh chấp này, có sự gặp gỡ tay ba giữa hòa giải viên và các bên tham gia tranh chấp. Trong buổi gặp gỡ này, ba bên có thể thay đổi bản thỏa thuận đã được hòa giải viên thảo ra.

Hiện nay, ở Việt Nam chưa áp dụng phương thức này như là một phương thức giải quyết tranh chấp độc lập.

5.4. Giải quyết tranh chấp trong kinh doanh quốc tế bằng tòa án

Tòa án là cơ quan tư pháp của một nước được lập ra để xét xử các tranh chấp phát sinh giữa các thương nhân của nước đó. Tuy nhiên, tòa án cũng có thể xét xử tranh chấp phát sinh trong kinh doanh quốc tế.

Tòa án bất kỳ nước nào cũng không có thẩm quyền đương nhiên đối với tranh chấp phát sinh trong kinh doanh quốc tế. Tòa án chỉ có thẩm quyền xét xử nếu các bên liên quan có thỏa thuận quy định tranh chấp phát sinh sẽ được đưa ra tòa án. Nếu hợp đồng không có thỏa thuận trọng tài, tranh chấp phát sinh có thể được hai bên đưa ra tòa án và tòa án sẽ có thẩm quyền giải quyết vụ tranh chấp.

Về mặt bản chất pháp lý, tòa án khác tất cả các cơ quan xét xử khác: Tòa án là bộ máy tư pháp, là công cụ của Nhà nước, là công cụ của cơ quan công quyền. Vì vậy, đối với các tranh chấp liên quan đến thương nhân của hai nước khác nhau, việc giải quyết tranh chấp bằng tòa án mang màu sắc chính trị, tòa án nước nào cũng sẽ bảo vệ quyền lợi của giai cấp thống trị, Nhà nước, công dân của nước đó.

Tòa án của bất kỳ nước nào cũng chỉ tuân thủ luật tố tụng của nước mình, nghĩa là nhận đơn kiện, chuẩn bị xét xử, tiến hành xét xử theo đúng luật tố tụng của nước tòa án. Còn khi giải quyết tranh chấp, tòa án phải áp dụng luật thực chất điều chỉnh hợp đồng.

Tòa án xét xử theo nguyên tắc công khai và xét xử theo hai cấp: sơ thẩm và phúc thẩm.

Tại phiên họp xét xử, bên nguyên và bên bị phải có mặt để bảo vệ quyền lợi của mình. Bên bị có quyền nhờ luật sư bào chữa. Nếu bên thua kiện không đồng ý với bản án của tòa án thì có quyền kháng cáo lên tòa án cấp trên theo thủ tục phúc thẩm.

Theo nguyên tắc công khai, khi một vụ tranh chấp được đưa ra xét xử, không chỉ có các bên tranh chấp, các thành phần liên quan được mời mà bất cứ ai muốn tham gia phiên xét xử cũng được, ngoại trừ những vụ liên quan đến bí mật quốc gia, an ninh quốc phòng thì phải xét xử kín. Trong trường hợp này phải có ý kiến của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Phán quyết của tòa án tại nước sở tại có tính cưỡng chế cao do tòa án có cơ quan cưỡng chế thi hành. Việc thi hành phán quyết của tòa án nước ngoài lại liên quan đến tính hiệu lực của phán quyết của toà án. Việc cưỡng chế thi hành án là rất khó khăn vì phán quyết của tòa án chỉ có hiệu lực trong quốc gia. Nếu muốn có hiệu lực ở ngoài thì phải tuân theo trật tự thi hành án của tòa án nước sở tại.

Một số nước như Mỹ, Nhật Bản, Thái Lan... giao việc xét xử các tranh chấp thương mại cho tòa án thường, còn lại đa số các nước thành lập tòa án thương mại với tư cách là một tòa chuyên trách trong hệ thống các cơ quan tư pháp để giải quyết các tranh chấp thương mại. Nhưng tòa án thương mại này chỉ xét xử các tranh chấp thương mại theo trình tự sơ thẩm. Nếu bản án sơ thẩm bị kháng cáo thì bản án đó sẽ được xét xử lại theo trình tự phúc thẩm ở Tòa thượng thẩm (phúc thẩm) dân sự như các tranh chấp dân sự.

Một trong những tòa án thương mại tiêu biểu ở các nước kinh tế thị trường là Tòa án thương mại Pháp. Tòa án thương mại Pháp được thành lập rất sớm, từ năm 1808. Đây là một tòa chuyên trách và chỉ xét xử theo trình tự sơ thẩm. Sau khi xét xử sơ thẩm, nếu các bên tranh chấp kháng cáo thì vụ việc có thể được xét xử theo trình tự phúc thẩm tại tòa án dân sự như một vụ tranh chấp dân sự thông thường. Mỗi tòa án thương mại ở Pháp có ít nhất một chánh án và hai thẩm phán. Chánh án và thẩm phán của các tòa án thương mại

Pháp đều là các thương gia và được bầu từ các thương gia nổi tiếng trong vùng theo một quy chế riêng, khác với trình tự bầu các thẩm phán ở các tòa án thường. Chánh án và các thẩm phán ở Tòa thương mại có nhiệm kỳ 3 năm và có thể được bầu hai nhiệm kỳ liên tiếp. Một đặc điểm rất đặc biệt là các thẩm phán đều làm việc tự nguyện, không hưởng lương và bất kỳ một khoản thù lao nào. Đây chính là một trong những yếu tố quan trọng làm cho việc xét xử tranh chấp tại các tòa án thương mại ở Pháp ít có tình trạng tiêu cực hoặc thiên vị. Do vậy, phần lớn các vụ tranh chấp thương mại trong nước cũng như quốc tế được xét xử khách quan, chính xác. Các bản án của tòa án thương mại Pháp cũng vì thế mà được thực hiện một cách tự nguyện, nhanh chóng hơn so với nhiều nước khác.

5.5. Giải quyết tranh chấp trong kinh doanh quốc tế bằng trọng tài thương mại

Xu hướng hiện nay các bên thường giao tranh chấp cho trọng tài thương mại xét xử vì việc giải quyết bằng trọng tài thương mại có rất nhiều ưu điểm, lợi thế so với phương thức giải quyết tranh chấp bằng tòa án.

Việc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài sẽ được nghiên cứu kỹ trong phần tiếp theo.

nhận ngay bộ tài liệu tham khảo phù hợp nhất với bạn

Hotline: 0912 309 689
Đinh Hà Uyên Thư Bạn hãy tham khảo website https://tailuanvan.com để rõ hơn công việc của tôi nhé !
Bình luận đánh giá
Đánh giá

Chat với chúng tôi qua zalo