Lý luận về thi hành án phạt tù đối với phạm nhân là người chưa thành niên

Đinh Hà Uyên Thư 16/01/2020 Luật
  • Lý luận về thi hành án phạt tù đối với phạm nhân là người chưa thành niên
    5/5 (1 đánh giá ) 0 bình luận

Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của của thi hành án phạt tù đối với phạm nhân là người chưa thành niên. Cơ sở của việc thi hành án phạt tù đối với đối tượng này là gì? Mời bạn xem bài viết dưới đây.

 

Lý luận về thi hành án phạt tù đối với phạm nhân là người chưa thành niên

 

1. Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của thi hành án phạt tù đối với phạm nhân là người chưa thành niên

1.1. Khái niệm

Khái niệm người chưa thành niên và phạm nhân là người chưa thành niên “Người chưa thành niên” là một thuật ngữ khoa học pháp lý có nội dung gần gũi, chồng lấn nhất định với khái niệm “trẻ em”, đồng thời cũng có những khác biệt. Trẻ em là một khái niệm chung, mang tính xã hội, dùng để chỉ người trẻ tuổi trong sự phân biệt với người lớn, đã trưởng thành nhằm xác định một nhóm xã hội cơ bản và rất quan trọng, là thế hệ trẻ, do còn non nớt nên cần được chăm sóc, bảo vệ, “cần được chuẩn bị đầy đủ để sống cuộc sống cá nhân trong xã hội” và “có thể đảm đương được đầy đủ các trách nhiệm của mình trong cộng đồng”, từ đó “quyết tâm thúc đẩy tiến bộ xã hội và chất lượng cuộc sống cao hơn”12. Việc xác định ranh giới về tuổi giữa trẻ em và người lớn có sự khác nhau giữa các quốc gia do tác động của yếu tố sinh học, địa lý, môi trường sống, văn hóa xã hội… Công ước Liên hợp quốc về quyền trẻ em 1989 qui định trẻ em là người dưới 18 tuổi nhưng vẫn để mở cho các quốc gia nếu qui định độ tuổi thành người lớn sớm hơn. Ở Việt Nam, Luật Trẻ em 2016 qui định “trẻ em là người dưới 16 tuổi” (Điều 1).

Trong tư pháp hình sự, “người chưa thành niên” là một loại người đặc biệt, có những hạn chế nhất định về khả năng nhận thức, ảnh hưởng đến năng lực hành vi của họ nên cần áp dụng chính sách riêng: ưu tiên giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, ưu tiên được bảo vệ trong quá trình tố tụng hình sự, ưu tiên được chăm sóc, giáo dục trong quá trình thi hành các biện pháp xử lý NCTN phạm tội. Cơ sở của chính sách đặc biệt này là những thành tựu khoa học và tư tưởng nhân đạo, tiến bộ về NCTN với tư cách là người chưa trưởng thành đầy đủ cả về thể chất, trí lực và tinh thần.

Dấu hiệu xác định một người là NCTN dựa vào cả hai yếu tố:

Về nội dung: người đó là người chưa đạt đến độ trưởng thành về các mặt tâm sinh lý, chưa có đầy đủ khả năng nhận thức đúng đắn trước các yêu cầu của nhà nước và xã hội nên chưa được nhà nước công nhận là một công dân với đầy đủ các quyền và nghĩa vụ; trong tư pháp hình sự, pháp luật có những qui định riêng và nhờ vậy người đó được hưởng những chính sách riêng, mang tính chất ưu tiên nói trên;

 

   Xem thêm: Dịch vụ cung cấp tài liệu làm luận văn theo yêu cầu                        

 

  

Về hình thức: người đó đang trong độ tuổi nhất định theo qui định của pháp luật (do tác động của yếu tố văn hóa, tập quán, trình độ phát triển xã hội… mà giữa lĩnh vực tư pháp hình sự với các lĩnh vực khác có thể qui định độ tuổi thành niên khác nhau).

Bộ luật Hình sự 1999 trước đây đã dành một chương độc lập (chương X) để qui định chính sách áp dụng riêng đối với “người chưa thành niên từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội” (Điều 68). BLHS 2015, sửa đổi, bổ sung 2017 cũng dành một chương riêng (chương XII) để qui định chính sách áp dụng riêng đối với đối tượng này, tuy nhiên đã không sử dụng cụm từ “người chưa thành niên” mà thay vào đó là cụm từ “người dưới 18 tuổi” phạm tội. Như vậy, BLHS hiện hành chỉ nêu dấu hiệu hình thức, còn dấu hiệu nội dung được biểu hiện thông qua bản thân sự tồn tại của chương XII trong Bộ luật.

Dấu hiệu độ tuổi tuy là dấu hiệu hình thức nhưng là chỉ giới quan trọng để xác định NCTN, có ý nghĩa thực tiễn đối với hoạt động áp dụng pháp luật hình sự, tố tụng hình sự và thi hành án hình sự. Việt Nam trong quá trình xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật hình sự đã dùng kỹ thuật lập pháp để tạo thuận lợi cho hoạt động áp dụng pháp luật. Như vậy, cụm từ “người dưới 18 tuổi” trong qui định của pháp luật hình sự vẫn cần được hiểu theo nghĩa bản chất và đầy đủ là “người chưa thành niên”. Nhận thức như vậy hoàn toàn thống nhất với chuẩn mực quốc tế hiện nay. Quy tắc của Liên hợp quốc về bảo vệ NCTN bị tước tự do 1990 cũng qui định rõ: “người chưa thành niên là người dưới 18 tuổi” (Điều 11a). Vì vậy, để phục vụ mục đích nghiên cứu khoa học, Luận án này sử dụng thuật ngữ “người chưa thành niên” để bảo đảm phản ánh đầy đủ nội hàm của khái niệm như đã phân tích ở trên.

“Phạm nhân là người chưa thành niên” là một thuật ngữ khoa học pháp lý được xây dựng dựa trên nền tảng của khái niệm “phạm nhân” và “người chưa thành niên”. Theo nghĩa gốc Hán Việt, phạm nhân có nghĩa là người phạm tội. Trong các văn bản, tài liệu của các cơ quan thi hành pháp luật ở Việt Nam từ trước đến nay, từ “phạm nhân” được dùng theo nhiều nghĩa: theo nghĩa rộng, phạm nhân là người đã bị Tòa án tuyên là có tội, phải chịu hình phạt và bản án đã có hiệu lực pháp luật; 

Chẳng hạn ở Việt Nam, Luật Thanh niên 2005 xác định thanh niên là công dân từ đủ 16 tuổi đến 30 tuổi (theo Điều 1), còn theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 (Điều 8) thì nam giới phải đủ 20 tuổi trở lên mới đủ tuổi kết hôn.

Còn theo nghĩa hẹp, phạm nhân là người phạm tội đã bị Tòa án kết án phạt tù, đang được cải tạo tại các trại giam, trại tạm giam. Trường hợp người bị kết án tử hình nhưng chưa thi hành án, đang bị giam ở trại tạm giam cũng phổ biến được gọi là phạm nhân. Theo Luật THAHS 2010, “Phạm nhân là người đang chấp hành án phạt tù có thời hạn, tù chung thân” (khoản 2 Điều 3). Đây là định nghĩa có giá trị pháp lý cao, nội dung rõ ràng và cho phép phân biệt thuật ngữ phạm nhân với những thuật ngữ khác có nội dung gần gũi, chồng lấn nhất định như: người bị kết án, người phải chấp hành án, người bị kết án tử hình (đang bị giam để chờ thi hành án)…

Ở Việt Nam hiện nay, xuất phát từ qui định độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự là từ đủ 14 tuổi trở lên và trong hệ thống hình phạt có áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với người dưới 18 tuổi phạm tội nên tất yếu dẫn đến khả năng tồn tại phạm nhân là người từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi chấp hành án phạt tù tại các trại giam. Đối tượng này được gọi là phạm nhân là NCTN. Ngoài dấu hiệu độ tuổi, phạm nhân là NCTN mang đặc trưng là một loại phạm nhân đặc biệt trong trại giam, được áp dụng chế độ quản lý giam giữ, giáo dục riêng (khác biệt và ưu tiên hơn so với phạm nhân thành niên) nhằm bảo đảm sự phát triển bình thường về thể chất, trí lực và tinh thần, giáo dục họ nhận thức và sửa chữa sai lầm, phấn đấu trở thành người biết tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống. Luật THAHS 2010 dành riêng một mục (Mục 3 của Chương III) để tập hợp các qui định áp dụng riêng đối với “phạm nhân là người chưa thành niên”, trong đó Điều 50 qui định: “Phạm nhân là người chưa thành niên chấp hành án theo qui định tại Mục này và các qui định khác không trái với qui định tại Mục này; khi đủ 18 tuổi thì chuyển sang thực hiện chế độ quản lý giam giữ, giáo dục đối với người đã thành niên”.

Như vậy, phạm nhân là NCTN vừa mang những đặc trưng chung của phạm nhân và của NCTN trong tư pháp hình sự, lại vừa mang những đặc trưng riêng. Từ đó, có thể khái quát nhận thức về phạm nhân là NCTN như sau: Phạm nhân là người chưa thành niên là người từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi đang chấp hành án phạt tù có thời hạn tại trại giam, được áp dụng chế độ quản lý giam giữ, giáo dục dành riêng nhằm bảo đảm sự phát triển bình thường về thể chất, trí lực và tinh thần, giáo dục họ nhận thức và sửa chữa sai lầm, phấn đấu trở thành người có ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống.

Trong đó, đối với người từ đủ 14 tuổi trở lên nhưng chưa đủ 16 tuổi, theo BLHS 1999 thì chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng; còn theo BLHS 2015, sửa đổi, bổ sung 2017 thì phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng qui định cụ thể tại một số điều luật nhất định.

Thi hành án phạt tù đối với phạm nhân là người chưa thành niên

Sau hoạt động xét xử, THAHS là một hoạt động độc lập nhằm bảo đảm bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật được thi hành và chấp hành nghiêm chỉnh. Bản án hình sự mang nhiều nội dung, ngoài việc kết tội và tuyên hình phạt đối với người bị kết án thì còn có thể đưa ra những quyết định xử lý về việc bồi thường thiệt hại, trả lại tài sản, tịch thu tài sản và những quyết định dân sự khác, đưa ra quyết định về xử lý vật chứng, việc đóng án phí, việc kiến nghị các cơ quan khác trong giải quyết những vấn đề khác có liên quan đến vụ án v.v… Theo luật hình sự Việt Nam, người dưới 18 tuổi phạm tội có thể bị áp dụng hình phạt tù có thời hạn (không áp dụng hình phạt tù chung thân, tử hình và không áp dụng hình phạt bổ sung). Thi hành án phạt tù mà luận án này đề cập đến là khái niệm dùng để chỉ việc thi hành hình phạt tù có thời hạn đã được Tòa án tuyên đối với người dưới tuổi bị kết án trong bản án hình sự đã có hiệu lực pháp luật; không bao gồm việc thi hành các nội dung khác trong bản án đó.

Thi hành án phạt tù là một hoạt động độc lập có tính cưỡng chế nghiêm khắc nhằm chấp hành bản án. Diễn ra sau khi và dựa trên căn cứ pháp lý là bản án đã có hiệu lực pháp luật, THAPT có thủ tục riêng, chỉ bắt đầu kể từ khi có quyết định THAPT của Tòa án có thẩm quyền và được tổ chức thực hiện bởi các cơ quan và người có thẩm quyền trong THAHS. Tính cưỡng chế trong THAPT thể hiện ở việc buộc người bị kết án phạt tù phải chấp hành án tại cơ sở giam giữ trong một thời hạn nhất định, cơ quan THAPT dựa trên cơ sở pháp luật THAHS để áp dụng chế độ giam giữ, chế độ giáo dục và các chế độ chấp hành án khác đối với phạm nhân và phạm nhân có nghĩa vụ phải chấp hành các chế độ đó.

Thi hành án phạt tù là một quá trình. Xét về mặt thời gian, quá trình này bắt đầu kể từ sau khi Tòa án ra quyết định THAPT và kéo dài cho đến khi phạm nhân hết thời hạn CHAPT. Đối với phạm nhân là NCTN, quá trình này kéo dài đến khi phạm nhân đó hết thời hạn CHAPT mà vẫn còn ở tuổi chưa thành niên hoặc đến khi đã đủ tuổi thành niên (nhưng chưa hết thời hạn CHAPT, sẽ chuyển sang coi là phạm nhân thành niên). Quá trình THAPT đối với phạm nhân là NCTN còn được hiểu là quá trình giáo dục. Các chế độ giam giữ, giáo dục, chế độ chấp hành án khác và các hoạt động chuẩn bị tái hòa nhập cộng đồng đối với phạm nhân là NCTN được tổ chức thực hiện trong một chỉnh thể thống nhất nhằm giúp họ nhận thức và sửa chữa sai lầm, trở thành người biết tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống. Đó là một quá trình xuyên suốt, liên tục, có tính thống nhất nội tại cao, trong đó giai đoạn phạm nhân ở độ tuổi dưới 18 tuổi là giai đoạn đầu, có tính chất nền tảng, ảnh hưởng lớn đến kết quả cuối cùng của việc thi hành toàn bộ án phạt tù.

Thi hành án phạt tù đối với phạm nhân là NCTN có những đặc thù riêng. Người CHAPT là NCTN, nghĩa là họ vẫn còn chưa trưởng thành đầy đủ cả về mặt thể chất, trí lực, tinh thần nên cần được ưu tiên những lợi ích tốt nhất, được quan tâm chăm sóc, bảo vệ để tiếp tục phát triển bình thường về thể chất, được giáo dục nâng cao trí lực và tinh thần. So với phạm nhân thành niên, phạm nhân là NCTN tuy non nớt nhưng không có nghĩa là hiền lành, ít nguy hiểm. Trong khi đó, THAPT đối với phạm nhân là NCTN phải nhất quán chính sách bảo vệ, chăm sóc và giáo dục họ; các chế độ giam giữ, giáo dục, chế độ chấp hành án khác và các hoạt động chuẩn bị tái hòa nhập cộng đồng phải bảo đảm tính thống nhất cùng hướng đến mục tiêu giáo dục phạm nhân là NCTN thực sự trở thành người có ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống, có khả năng tái hòa nhập cộng đồng, ngăn ngừa những tội phạm chuyên nghiệp trong tương lai. Điều này đặt ra những yêu cầu đặc thù về về cơ sở vật chất, môi trường giam giữ, giáo dục phạm nhân là NCTN, về đội ngũ cán bộ, về nội dung và phương pháp giáo dục phạm nhân là NCTN…

Từ nhận thức về THAPT đối với phạm nhân là NCTN ở nhiều mặt, nhiều góc độ như trên, có thể khái quát lại như sau: Thi hành án phạt tù đối với phạm nhân là người chưa thành niên là quá trình cơ quan thi hành án phạt tù và các cơ quan, người có thẩm quyền trong thi hành án hình sự căn cứ vào nội dung bản án đã có hiệu lực pháp luật, quyết định thi hành án phạt tù và các qui định của pháp luật thi hành án hình sự để thống nhất thực hiện chế độ giam giữ, giáo dục, các chế độ chấp hành án khác và chuẩn bị tái hòa nhập cộng đồng dành riêng đối với phạm nhân trong giai đoạn từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi để họ phát triển bình thường và lành mạnh về thể chất, trí lực và tinh thần, giáo dục họ nhận thức và sửa chữa sai lầm, phấn đấu trở thành người có ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống.

1.2. Đặc điểm

Thứ nhất, thi hành án phạt tù đối với phạm nhân là người chưa thành niên có đặc thù về người chấp hành án, là người nguy hiểm cho xã hội, có nhân cách lệch lạc, tiềm ẩn những hành vi khó lường, khó đoán, nhưng chưa trưởng thành về mọi mặt và dễ uốn nắn, giáo dục hơn phạm nhân thành niên.

Phạm nhân là NCTN là một loại người chấp hành án đặc biệt trong THAPT. Dù còn non nớt, chưa đủ tuổi thành niên nhưng họ là người đã thực hiện tội phạm với tính chất nguy hiểm cao (nhất là những trường hợp phạm tội khi ở độ tuổi từ đủ tuổi đến dưới 16 tuổi), có nhân thân xấu, nhân cách lệch lạc đến mức các hình phạt và biện pháp giáo dục khác không có tác dụng răn đe, phòng ngừa và cần thiết buộc phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với họ để bảo đảm phòng ngừa tội phạm. Đa số phạm nhân là NCTN phạm những tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người, xâm phạm tài sản, như tội giết người, cố gây thương tích, hiếp dâm, trộm cắp, cướp, cướp giật tài sản… Hầu hết họ có hoàn cảnh gia đình bất hạnh, phức tạp, có nếp sống tiêu cực, thiếu giáo dục như bố mẹ ly hôn hoặc có nhiều mâu thuẫn, có bạo lực gia đình, không quan tâm chăm sóc con cái…; họ đã hư hỏng, bỏ học, lãng học ngay từ bậc phổ thông cơ sở, suy thoái đạo đức, có thái độ và cách ứng xử không phù hợp với yêu cầu của xã hội ở nhiều mức độ khác nhau: lười biếng, coi thường người khác, vô lễ, tục tĩu, cộc cằn, hung hãn, manh động, liều lĩnh, sẵn sàng sử dụng vũ lực với người khác. Thêm nữa, trong giai đoạn phát triển mạnh về thể chất trước khi thành niên, họ hiếu động, thích sử dụng sức mạnh cơ bắp trong khi họ lại chưa phát triển đầy đủ về trí lực và tinh thần, suy nghĩ thiếu chín chắn, dễ bị mất cân bằng, dễ bị kích thích trước các tác động gây hấn và sẵn sàng lao vào những cuộc xung đột cá nhân hoặc băng nhóm giữa các phạm nhân ngay trong trại giam.

Tính nguy hiểm, khó lường, khó đoán trong hành vi, cách ứng xử của phạm nhân là NCTN tạo ra nhiều khó khăn và thách thức đặc thù đối với việc giam giữ và giáo dục phạm nhân là NCTN. Cán bộ quản lý giam giữ phải am hiểu tâm lý phạm nhân là NCTN, quản lý, theo dõi họ sát sao, biết ứng xử phù hợp và luôn đề cao cảnh giác, phòng bị hoặc sẵn sàng can thiệp xử lý trước những tình huống chống đối cán bộ hoặc xung đột lẫn nhau giữa các phạm nhân là NCTN một cách bộc phát, có thể xảy ra bất cứ lúc nào. Trong khi đó, để phục vụ yêu cầu giáo dục, các biện pháp an ninh trại giam cần được thực hiện một cách khéo léo và tiết chế, không sử dụng những kiến trúc giam giữ nặng tính chất giam cầm, không phô trương những hoạt động tuần tra, kiểm soát gắt gao hay sức mạnh phòng vệ và trấn áp nhờ vào vũ khí, công cụ hỗ trợ, không vì chú trọng phòng vệ của bản thân cán bộ mà hạn chế tiếp xúc, trao đổi một cách gần gũi với phạm nhân là NCTN, không được bộc lộ những cử chỉ, nét mặt, trạng thái căng thẳng khiến phạm nhân nhận ra thái độ cảnh giác, đề phòng của cán bộ đối với mình.

Tuy vậy, đặc thù về phạm nhân là NCTN cũng mang lại cho hoạt động THAPT những yếu tố thuận lợi riêng so với THAPT đối với phạm nhân thành niên. Tính chất nguy hiểm của phạm nhân là NCTN gắn liền với sự non nớt trong nhận thức, sự lệch lạc trong quá trình phát triển nhân cách của họ. Những sự lệch lạc này cần phải được chỉnh sửa và có thể chỉnh sửa được. Ở độ tuổi chưa thành niên, kinh nghiệm sống của phạm nhân là NCTN vẫn chưa tích lũy đầy đủ, nhân sinh quan, thế giới quan, thói quen, lẽ sống (tiêu cực)… của họ vẫn chưa định hình một cách ổn định và bền vững. Mặt khác, ở độ tuổi này con người đang hình thành “cái tôi”, phạm nhân là NCTN dễ nhiệt tình, hăng hái, sôi nổi trong học tập, lao động và sinh hoạt tập thể do trại giam tổ chức. Nhờ đó những phẩm chất cá nhân đã lệch lạc của họ dễ được uốn nắn lại theo những quy chuẩn của pháp luật và đạo đức xã hội hơn phạm nhân thành niên.

Thứ hai, giáo dục là hoạt động chủ đạo trong quá trình thi hành án phạt tù đối với phạm nhân là người chưa thành niên.

Mục đích chính yếu và cuối cùng của việc áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với người dưới 18 tuổi phạm tội là giáo dục người đó trở thành người biết tuân theo pháp luật và các yêu cầu của xã hội. Bản chất của THAPT đối với phạm nhân là NCTN là quá trình tác động vào phạm nhân là NCTN thông qua hệ thống thống nhất chế độ giam giữ, học tập, lao động, sinh hoạt,… theo những quy tắc nghiêm ngặt và có chủ đích trong trại giam để giáo dục họ, đồng thời bảo vệ họ với tư cách là những người còn chưa trưởng thành đầy đủ về thể chất, trí lực và tinh thần.

Phạm nhân là NCTN tuy có nhân cách lệch lạc do những tác động tiêu cực của môi trường sống nhưng vẫn dễ giáo dục hơn so với phạm nhân thành niên. NCTN cần được chăm sóc và giáo dục đúng hướng. Việc giáo dục thành công một phạm nhân là NCTN mang ý nghĩa vô cùng to lớn: ngăn ngừa sự xuất hiện của tội phạm chuyên nghiệp trong tương lai và bổ sung cho xã hội một lao động trẻ. Chính nét đặc thù trong mục đích, yêu cầu, kết quả và ý nghĩa của THAPT đối với phạm nhân là NCTN đã qui định tính chủ đạo của hoạt động giáo dục. Xuyên suốt quá trình THAPT đối với phạm nhân là NCTN, cơ quan THAPT tổ chức thực hiện các hoạt động học tập, lao động, sinh hoạt tập thể phạm nhân, gặp gỡ thân nhân, tiếp cận thông tin từ xã hội bên ngoài… nhằm khắc phục những thói hư, tật xấu ở phạm nhân, chỉnh sửa và chuẩn mực hóa cho họ cả về nhận thức và ý thức pháp luật, đạo đức, lối sống, tình cảm, hành vi ứng xử với người xung quanh. Về bản chất, đó chính là hoạt động giáo dục. Ngay cả việc quản lý giam giữ phạm nhân là NCTN bằng một chế độ chặt chẽ, có kỷ luật nghiêm minh trong trại giam cũng là hoạt động giáo dục17. Việc tước bỏ tự do, giữ vững nội quy, kỷ luật trong trại giam tuy mang tính chất cưỡng chế nhưng là cần thiết để giúp phạm nhân là NCTN nhìn nhận tội lỗi mình đã gây ra, rèn luyện nếp sống có kỷ luật và khả năng làm chủ hành vi của bản thân trong sinh hoạt hàng ngày.

Xuất phát từ tính chủ đạo của hoạt động giáo dục, quá trình THAPT đối với phạm nhân là NCTN đòi hỏi vừa phải giam giữ, quản lý phạm nhân chặt chẽ, bảo đảm kỷ luật, kỷ cương, luôn đề phòng phạm nhân là NCTN trốn trại, đánh nhau… nhưng đồng thời phải bảo đảm môi trường trại giam mang tính giáo dục: cảnh quan, kiến trúc nhà giam không bộc lộ rõ rệt tính chất giam cầm, trừng trị; cán bộ trại giam trực tiếp quản lý, giáo dục phạm nhân là NCTN phải thực sự là những nhà giáo, có cách tiếp xúc, ứng xử văn hóa với phạm nhân, hướng đến mục đích giáo dục. Trong trại giam, phạm nhân là NCTN phải được ăn ở, sinh hoạt, hoạt động tập thể, phải được tách biệt hoàn toàn với môi trường phạm nhân thành niên hoặc được bố trí CHAPT ở cơ sở riêng. Mọi vi phạm của phạm nhân là NCTN đều phải được xử lý nghiêm minh bằng những biện pháp, cách thức và mức độ xử lý mang tính giáo dục, thực sự công minh, không thiên vị, tiêu cực. Trại giam cần có những hình thức linh hoạt để thu hút sự tham gia của thân nhân phạm nhân vào việc giáo dục phạm nhân với tư cách là một chủ thể giáo dục.

Thứ ba, trong thi hành án phạt tù đối với phạm nhân là người chưa thành niên, việc sử dụng phương pháp cưỡng chế phải tiết giảm đến mức tối thiểu, vừa đủ cần thiết để rèn luyện và giáo dục họ, kết hợp với chính sách quan tâm chăm sóc và bảo vệ họ.

Án phạt tù có thời hạn mang bản chất pháp lý là hạn chế tự do của người CHAPT trong một thời hạn nhất định. Trong quá trình CHAPT, về cơ bản phạm nhân bị cách ly khỏi đời sống xã hội và ăn ở, sinh hoạt, lao động, học tập, giao tiếp… trong trại giam theo nề nếp quy củ, có kỷ luật, dựa trên cơ sở thi hành và chấp hành nghiêm chỉnh nội quy trại giam. Trước khi vào trại giam, phạm nhân là NCTN đã quen với lối sống tự do, vô kỷ luật, coi thường pháp luật và các quy tắc của cuộc sống nên trong giai đoạn đầu CHAPT, cảm xúc tù túng, bức bối, muốn thoát khỏi sự quản lý giam giữ chặt chẽ của trại giam là điều khó tránh khỏi trong tâm lý phạm nhân. Việc sử dụng phương pháp cưỡng chế là cần thiết để đưa phạm nhân là NCTN trở lại nếp sống có khuôn khổ, trật tự, kỷ cương nhưng không được lạm dụng quá mức cần thiết. Lối sống tự do, vô kỷ luật của phạm nhân là NCTN có nguồn gốc từ sự non nớt trong nhận thức và những lệch lạc của quá trình giáo dục, hoạt động của bản thân trước đó cho nên việc sử dụng phương pháp cưỡng chế phải mang tính giáo dục, tức là nó chỉ được sử dụng vừa đủ để rèn luyện cho phạm nhân là NCTN làm quen trở lại với nếp sống chuẩn mực và tác động chỉnh sửa nhận thức, hành vi ứng xử của họ theo kỷ luật trại giam, pháp luật và đạo đức xã hội.

Phương pháp cưỡng chế phải kết hợp với và dựa trên nền tảng phương pháp giáo dục, cảm hóa và đối xử nhân đạo, khoan dung với phạm nhân là NCTN. Do còn chưa phát triển đầy đủ cả về thể chất, trí lực và tinh thần, phạm nhân là NCTN cần được quan tâm chăm sóc và bảo vệ ngay từ khi mới được tiếp nhận vào trại giam nhằm bảo đảm sự an toàn và tiếp tục phát triển bình thường trong môi trường phức tạp của trại giam (nhất là trại giam có đông phạm nhân thành niên), đồng thời tạo ra điều kiện để uốn nắn, sửa đổi những phẩm chất cá nhân của họ theo chiều hướng tích cực. Cùng với sự tiến bộ trong quá trình CHAPT, phương pháp cưỡng chế tiết giảm và nhường chỗ dần cho tính tự giác của phạm nhân là NCTN và quá trình giáo dục chuyển hóa thành quá trình tự giáo dục của bản thân họ.

Từ đặc điểm trên, THAPT đối với phạm nhân là NCTN vừa phải bảo đảm trật tự, an toàn trại giam vừa phải bảo đảm các chế độ chấp hành án có tính ưu tiên đối với họ (chế độ ăn, điều kiện sinh hoạt, học tập, vui chơi, giải trí, chăm sóc và bảo vệ sức khỏe, liên lạc và tiếp xúc với gia đình…) nhằm hạn chế tác động tiêu cực của tình trạng tách biệt môi trường xã hội. Cán bộ làm công tác quản lý, giáo dục phạm nhân là NCTN cần phải có tri thức về tâm lý phạm nhân là NCTN, có phẩm chất đạo đức tốt, gương mẫu trong đời sống, có năng lực sư phạm và có ý thức bảo vệ NCTN. Chủ thể THAPT tuy nhất thiết phải là cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo qui định của pháp luật nhưng cũng cần phát huy, thu hút sự tham gia của gia đình phạm nhân và xã hội vào những hoạt động nhất định, nhất là trong thực hiện các chế độ CHAPT, chăm sóc, bảo vệ phạm nhân là NCTN.

1.3. Ý nghĩa

Thi hành án phạt tù đối với phạm nhân là NCTN góp phần mang lại hiệu quả cao trong phòng ngừa tái phạm, nhất là phòng ngừa tội phạm có tính chất chuyên nghiệp trong tương lai.

Mục đích chính của THAPT nói chung là làm cho phạm nhân biết ăn năn hối cải, giáo dục cải tạo họ thành người biết tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống, có khả năng tái hòa nhập cộng đồng, ngăn ngừa họ tái phạm. Tuy nhiên, mục đích đó không phải dễ dàng đạt được. Thực tế, tỉ lệ phạm nhân có tiền án luôn chiếm khoảng trên 25% tổng số phạm nhân đang CHAPT18. Trong khi đó, phạm nhân là NCTN với đặc điểm là dễ giáo dục hơn so với phạm nhân thành niên; số lượng phạm nhân là NCTN lại ít, chỉ chiếm dưới 1% tổng số phạm nhân đang CHAPT19 nên tạo ra nhiều điều kiện thuận lợi để công tác THAPT đạt hiệu quả cao hơn. Ngược lại, nếu vì lý do nào đó mà công tác này đạt hiệu quả thấp thì đồng nghĩa với việc xã hội buộc phải tiếp nhận trở lại những con người đã có lịch sử, kinh nghiệm phạm tội từ rất sớm, cuộc đời còn dài và sẽ dễ dàng trở nên chuyên nghiệp trong tương lai gần. Nếu được quan tâm đúng mức, THAPT đối với phạm nhân là NCTN sẽ mang lại hiệu quả cao, đóng góp to lớn vào phòng ngừa tái phạm, nhất là phòng ngừa tội phạm có tính chất chuyên nghiệp trong tương lai.

Thi hành án phạt tù đối với phạm nhân là NCTN góp phần bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, thực hiện mục tiêu phát triển con người vì lợi ích của toàn xã hội.

Mặc dù so với qui định của Luật Trẻ em 2016, chỉ bộ phận phạm nhân từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi mới được coi là trẻ em nhưng nói chung phạm nhân là NCTN là nhóm phạm nhân đặc biệt cần được quan tâm bảo vệ, chăm sóc và giáo dục vì những hạn chế về thể chất, trí lực, tinh thần, đạo đức và xã hội ở họ. Điều này hoàn toàn phù hợp với chuẩn mực quốc tế về THAPT đối với phạm nhân là NCTN. Làm tốt công tác THAPT đối với phạm nhân là NCTN chính là bảo vệ NCTN trước những tác động tiêu cực của môi trường giam giữ phạm nhân, là chăm sóc và bảo vệ tốt cả sức khỏe thể chất và tinh thần cho họ, giáo dục họ chuẩn hóa nhận thức và ý thức pháp luật, đạo đức, lối sống, tình cảm, hành vi ứng xử với người xung quanh, tích cực chuẩn bị cho họ tái hòa nhập cộng đồng và trả lại cho xã hội một nguồn lao động trẻ. Những kết quả đó mang lại sự đóng góp đáng kể cho việc bảo vệ, chăm sóc thế hệ tương lai của đất nước và góp phần vào sự phát triển chung của xã hội.

Xuất phát từ những ý nghĩa to lớn nói trên, nhà nước cần quan tâm đầu tư đúng mức cho THAPT đối với phạm nhân là NCTN. Thi hành án phạt tù tuy là một hoạt động rất tốn kém, nhưng nằm trong khoản chi phí to lớn đó, chi phí đầu tư cho THAPT đối với phạm nhân là NCTN rất nhỏ bé bởi vì tỉ lệ phạm nhân là NCTN chỉ chiếm dưới 1% tổng số phạm nhân nhưng hiệu quả phòng ngừa tội phạm của công tác này lại cao hơn (do phạm nhân là NCTN dễ giáo dục hơn). Thực chất, đầu tư cho THAPT đối với phạm nhân là NCTN chính là đầu tư cho giáo dục (là quốc sách hàng đầu), cho mục tiêu phát triển con người vì lợi ích của toàn xã hội.

2. Cơ sở của thi hành án phạt tù đối với phạm nhân là người chưa thành niên

2.1. Quan điểm cơ bản về vai trò của pháp luật thi hành án phạt tù đối với phạm nhân là người chưa thành niên

Cùng với pháp luật hình sự và pháp luật tố tụng hình sự, pháp luật THAHS là một công cụ trong các công cụ pháp luật để đấu tranh phòng, chống tội phạm. Pháp luật THAHS có 3 nhiệm vụ chính: một là, bảo đảm bản án, quyết định hình sự đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án được thực hiện trên thực tế; hai là, giáo dục cải tạo người chấp hành án hình sự trở thành người biết tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống, chuẩn bị các điều kiện cần thiết để họ tái hòa nhập cộng đồng, phòng ngừa họ phạm tội mới; ba là, giáo dục người khác tôn trọng pháp luật, tham gia đấu tranh phòng, chống tội phạm. Ba nhiệm vụ này phản ánh vai trò quan trọng của pháp luật THAHS. Tuy nhiên, thực tiễn THAHS cho thấy, luôn tồn tại một tỉ lệ nhất định số người đã chấp hành xong hình phạt lại tái phạm. Theo thống kê chung trong năm gần đây, con số này là hơn 26%22, không phải là một con số nhỏ. Như vậy, vấn đề đặt ra là cần đánh giá khả năng thực tế của pháp luật THAHS trong toàn bộ các công cụ đấu tranh phòng, chống tội phạm và liệu có thể giảm tỉ lệ tái phạm, tăng hiệu quả tái hòa nhập cộng đồng bằng cách hoàn thiện pháp luật THAHS (với tư cách là một công cụ đấu tranh phòng, chống tội phạm) hay không.

Về mặt quan điểm, để đánh giá đúng vai trò và giá trị thực chất của pháp luật THAHS, trước hết phải xuất phát từ quan điểm về tội phạm, về bản chất của tình trạng tội phạm do NCTN thực hiện. Vì tội phạm do NCTN thực hiện là một hiện tượng xã hội và xã hội phải chịu trách nhiệm ở phạm vi nhất định về tình trạng NCTN phạm tội cho nên biện pháp xử lý tội phạm do NCTN thực hiện cũng phải mang tính xã hội và toàn diện. Biện pháp pháp luật, trong đó có sử dụng pháp luật THAHS, chỉ là một biện pháp trong hệ thống các biện pháp đấu tranh phòng, chống tội phạm do NCTN thực hiện. Tuy vậy, vì tội phạm là hành vi nguy hiểm nhất cho xã hội trong thang bậc các hành vi vi phạm và án phạt tù đối với NCTN phạm tội là giải pháp cuối cùng khi xét thấy các hình phạt và biện pháp giáo dục khác không còn tác dụng răn đe, phòng ngừa, nên pháp luật THAPT đối với phạm nhân là NCTN thực sự giữ vai trò quan trọng đối với kết quả xử lý tội phạm do NCTN thực hiện, bảo đảm kết quả và ý nghĩa của toàn bộ hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử trước đó, bảo đảm mục đích cuối cùng của hình phạt tù là giáo dục người CHAPT là NCTN trở thành người biết tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống, tái hòa nhập cộng đồng thành công.

Đánh giá vai trò của pháp luật về THAPT đối với phạm nhân là NCTN cần đặt trong những điều kiện lịch sử cụ thể và mức độ phát huy vai trò đó phụ thuộc vào tính phù hợp của pháp luật về THAPT đối với phạm nhân là NCTN với những điều kiện kinh tế - xã hội đã sản sinh ra nó. Quan điểm của Chủ nghĩa Mác-Lênin cho rằng: trong điều kiện kinh tế - xã hội cụ thể, pháp luật không phải là sản phẩm chủ quan của nhà làm luật mà là sản phẩm của những điều kiện khách quan thuộc cơ sở hạ tầng về kinh tế cho nên khi điều kiện kinh tế - xã hội có thay đổi thì pháp luật phải thay đổi cho phù hợp. Lịch sử lập pháp Việt Nam từ 1945 đến nay phản ánh rõ điều này. Sau khi thành lập nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, để bảo vệ thành quả cách mạng và dựa trên Hiến pháp 1946, Chủ tịch nước đã ban hành Sắc lệnh 150/SL ngày 07/11/1950 qui định “Phạm nhân phải giam giữ trong các trại giam để trừng trị và giáo hóa” (Điều 1), đồng thời Quy tắc trại giam đã qui định tùy nghi: “Nếu có thể được, những phạm nhân thành án nên phân loại như sau và giam riêng: sơ phạm; phạm pháp nhiều lần; phạm nhân dưới 18 tuổi; phạm nhân trên 55 tuổi; phạm nhân tàn tật” (Điều 9). Tuy vậy, trong điều kiện đất nước có ngoại xâm, đời sống còn quá nhiều khó khăn nên pháp luật THAPT chưa đặt ra những chế độ dành riêng cho phạm nhân là NCTN. Trong giai đoạn kháng chiến chống Mỹ, mặc dù tình hình kinh tế, xã hội ở miền Bắc khó khăn và số trẻ em hư, phạm pháp tăng nhanh nhưng vì phải tập trung cho sự nghiệp thống nhất đất nước, biện pháp chủ yếu để giải quyết tình trạng này là giáo dục lại các em trong mô hình Trường Giáo dục Thiếu niên hư. Trong giai đoạn đất nước đổi mới, kinh tế ngày càng phát triển, trước tình hình vi phạm pháp luật và phạm tội của NCTN gia tăng, song song với mô hình giáo dục lại trẻ em hư trong các Trường Giáo dưỡng, công tác THAPT đối với phạm nhân là NTCN có điều kiện được quan tâm trở lại. BLTTHS 1988 không chỉ khẳng định phải thực hiện chế độ giam giữ riêng phạm nhân là NTCN mà còn qui định chế độ đặc thù: “Người chưa thành niên bị kết án phải được học nghề hoặc học văn hóa trong thời gian chấp hành hình phạt tù” và “đối với người chưa thành niên đã chấp hành xong hình phạt tù, Ban giám thị trại giam phải phối hợp với chính quyền và tổ chức xã hội ở xã, phường, thị trấn để giúp người đó trở về sống bình thường trong xã hội” (khoản 2, 4 Điều 278).

Hiện nay, trong điều kiện đẩy mạnh công nghiệp hóa – hiện đại hóa, hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, phát triển kinh tế tri thức và chủ động hội nhập, thực hiện nghiêm chỉnh Hiến pháp 2013 với tinh thần đề cao quyền con người, quan tâm bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, thực hiện dân chủ và tiến bộ xã hội, tuân thủ các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên và tôn trọng các chuẩn mực quốc tế, pháp luật THAPT đối với phạm nhân là NCTN cần tiếp tục được hoàn thiện, bảo đảm sự phù hợp và đáp ứng yêu cầu của sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong tình hình mới.

2.2. Chính sách thi hành án phạt tù có liên quan đến phạm nhân là người chưa thành niên

Toàn bộ công tác xây dựng pháp luật, áp dụng và thi hành pháp luật, giáo dục và tuyên truyền pháp luật đều được tiến hành trên cơ sở đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước27. Chính sách THAPT là một bộ phận của chính sách THAHS, là những đường lối, sách lược, phương châm, phương hướng chỉ đạo của Nhà nước trong việc xây dựng và sử dụng pháp luật để điều chỉnh các quan hệ xã hội trong lĩnh vực THAPT nhằm đấu tranh phòng, chống tội phạm. Với tư cách vừa là một bộ phận của chính sách pháp luật, vừa là một bộ phận của chính sách phòng, chống tội phạm, chính sách THAPT không chỉ được quán triệt trong hoạt động xây dựng pháp luật về THAPT mà còn là định hướng chỉ đạo cho toàn bộ hoạt động thực tiễn áp dụng pháp luật về THAPT.

Nội dung cơ bản của chính sách THAPT bao gồm:

Chính sách về giam giữ phạm nhân

Khi đề cập đến THAPT, câu hỏi trước tiên đặt ra là: phải tổ chức giam giữ phạm nhân ở đâu? trong tính đa dạng, phức tạp của đối tượng giam giữ, cần phải tổ chức giam giữ như thế nào để đạt được hiệu quả của án phạt tù?

Trong những thời kỳ lịch sử khác nhau, chính sách về giam giữ phạm nhân có khác nhau, đồng thời nó phản ánh bản chất của nhà nước. Thực dân Pháp hay chính quyền ở miền Nam Việt Nam trước 1975 đã từng sử dụng những nhà tù ở nơi hải đảo xa xôi và với chế độ giam giữ cực kỳ hà khắc, tàn bạo, áp dụng ngay cả với tù nhân là người chưa thành niên, phụ nữ.

Lịch sử lập pháp và thực thi pháp luật của nước ta cho thấy chính sách:

Dùng “trại giam” đóng ở những địa điểm nhất định trong phần lãnh thổ đất liền để làm nơi giam giữ phạm nhân (Điều 1 Sắc lệnh 150/SL ngày 07/11/1950 qui định “Phạm nhân phải giam giữ trong các trại giam…” và trong thực tiễn không có trại giam nào đóng ở hải đảo);

Bảo đảm an ninh trại giam, kiểm soát chặt chẽ, đề phòng phạm nhân trốn trại, chống phá trại giam đối với số phạm nhân có tính nguy hiểm cao, có thái độ cải tạo kém, chống đối, thường xuyên vi phạm nội quy trại giam (căn cứ Điều 27 Luật THAHS 2010);

Áp dụng chế độ giam giữ dành riêng phù hợp với sức khỏe, giới tính, đặc điểm nhân thân đối với một số nhóm phạm nhân đặc biệt, như phạm nhân là NCTN, là người già yếu, là phụ nữ, là người mắc bệnh truyền nhiễm…

Chính sách áp dụng chế độ giam giữ dành riêng đối với phạm nhân là NCTN (theo nghĩa có cân nhắc, ưu tiên sao cho phù hợp với đặc điểm thể chất còn non kém, với giới tính và với những đặc điểm nhân thân khác có liên quan đến nguyên nhân phạm tội của phạm nhân là NCTN) xuất phát từ những thành tựu nghiên cứu của tâm lý học, giáo dục học về sự hình thành và phát triển nhân cách của NCTN và những tư tưởng tiến bộ, những chuẩn mực pháp lý quốc tế về bảo vệ quyền con người và bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em. Theo đó, sự hình thành và phát triển nhân cách của con người chính là quá trình biến đổi, phát triển trên các mặt thể chất, tâm lý (nhận thức, tư tưởng, tình cảm, nhu cầu…) và xã hội (thái độ ứng xử với con người và môi trường xung quanh)28; quá trình phát triển đó chịu sự tác động của bốn yếu tố chính: yếu tố sinh học, yếu tố môi trường, yếu tố hoạt động và yếu tố giáo dục, trong đó yếu tố hoạt động của chủ thể giữ vai trò là cơ sở cho sự hình thành và phát triển nhân cách. Phạm nhân là NCTN đang trong quá trình phát triển nhân cách (chưa hoàn thiện) và quá trình đó có những sai lệch, khiếm khuyết nhất định về mặt thể chất, tâm lý và xã hội, nhất là những hạn chế thuộc về nhân thân (như hoàn cảnh gia đình, điều kiện kinh tế, học hành, tiếp thu giáo dục, môi trường giao tiếp…). Do đó, để đạt được mục đích giáo dục họ trở thành người biết tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống xã hội, cần phải bảo đảm cho phạm nhân là NCTN được ăn uống đủ chất dinh dưỡng để phát triển thể chất, không bị buộc lao động nặng, nguy hiểm, độc hại, được sống trong một môi trường lành mạnh, không bị tác động tiêu cực bởi môi trường chung sống và giao tiếp với đông đảo phạm nhân thành niên… (cùng với nhiều đặc thù về chế độ giáo dục và chấp hành án khác). Vì thế, phạm nhân là NCTN cần được hưởng chính sách giam giữ dành riêng phù hợp với sức khỏe, giới tính, đặc điểm nhân thân của mình.

Quán triệt chính sách giam giữ dành riêng đối với phạm nhân là NCTN, pháp luật THAHS cần phải có những điều luật cụ thể, rõ ràng về chế độ giam giữ và về mô hình tổ chức THAPT đối với phạm nhân là NCTN, đồng thời hoạt động thực tiễn áp dụng pháp luật về THAPT đối với phạm nhân là NCTN cũng phải bám sát bản chất của chính sách giam giữ dành riêng đối với phạm nhân là NCTN là tạo ra điều kiện tối ưu để giáo dục họ trở thành người biết tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống, có khả năng tái hòa nhập cộng đồng chứ không đơn thuần chỉ là hoàn thành việc cách ly xã hội đối với họ cho đến khi hết thời hạn CHAPT.

Chính sách về giáo dục phạm nhân

Việc đề ra và thực hiện chính sách về giáo dục cải tạo phạm nhân trong THAPT (nói chung) là xuất phát từ mục đích của hình phạt tù và quan điểm thừa nhận khả năng giáo dục lại người phạm tội. Đối với phạm nhân là NCTN, mục đích của THAPT trước hết là nhằm ngăn ngừa sự nguy hiểm cho xã hội (mà không còn hình phạt hay biện pháp xử lý nào khác có tác dụng răn đe, phòng ngừa), răn đe người khác tôn trọng pháp luật, kỷ cương xã hội, đồng thời nhằm mục đích cuối cùng là giáo dục người đó trở thành người biết tuân theo pháp luật và các yêu cầu của xã hội. Tính chất nguy hiểm của phạm nhân là NCTN gắn liền với sự non nớt trong nhận thức, sự lệch lạc trong quá trình phát triển nhân cách, đặc biệt là sự tồn tại những yếu tố tiêu cực trong hoàn cảnh gia đình, môi trường sống, giao tiếp, giáo dục và hoạt động của bản thân. Ở độ tuổi chưa thành niên, con người chưa tích lũy đầy đủ kinh nghiệm sống và chưa định hình vững chắc về nhân sinh quan, thế giới quan, thói quen, lẽ sống (tiêu cực)… Vì thế, những sự lệch lạc này có thể chỉnh sửa được bằng giáo dục (mà không khó khăn đến mức phải đấu tranh cải tạo). Mặt khác, độ tuổi này, phạm nhân là NCTN đang hình thành “cái tôi” nên họ dễ nhiệt tình, hăng hái, sôi nổi trong học tập, lao động, sinh hoạt tập thể do trại giam tổ chức. Nhờ đó, những thái độ và hành vi ứng xử của phạm nhân là NCTN dễ được uốn nắn lại theo những quy chuẩn của pháp luật và đạo đức xã hội hơn phạm nhân thành niên.

Nội dung của chính sách về giáo dục phạm nhân là NCTN phụ thuộc vào việc giải đáp những câu hỏi cơ bản sau đây:

Những yếu tố nào có tác động đến ý thức pháp luật và hành vi ứng xử của phạm nhân là NCTN?

Với những đặc điểm riêng về mức độ phát triển thể chất, tâm lý và xã hội của phạm nhân là NCTN thì nội dung, hình thức, biện pháp giáo dục đối với họ như thế nào là phù hợp và có khác biệt gì so với phạm nhân thành niên?

Chủ thể giáo dục phạm nhân là NCTN là ai và vai trò của từng chủ thể? Chính sách về giáo dục đối với phạm nhân là NCTN có những nội dung chính như sau:

Giáo dục vừa là mục tiêu vừa là hoạt động chủ yếu trong THAPT đối với phạm nhân là NCTN và được ưu tiên đầu tư (căn cứ khoản 5 Điều 4 Luật THAHS 2010 và khoản 2 Điều 61 Hiến pháp 2013);

Giáo dục phạm nhân là NCTN phải bằng hệ thống đồng bộ nhiều nội dung, biện pháp và thực hiện phù hợp với đặc thù của phạm nhân là NCTN (về sức khỏe, đặc điểm tâm sinh lý, trình độ văn hóa, đặc điểm nhân thân khác…)

Hệ thống nội dung, biện pháp giáo dục phạm nhân trong trại giam bao gồm giáo dục thông qua lao động, học tập văn hóa, pháp luật, sinh hoạt tập thể, rèn luyện nếp sống kỷ luật và nêu gương (thể hiện thông qua các qui định cấm, các chế độ về lao động, học tập, giáo dục, thi đua CHAPT, khen thưởng, kỷ luật phạm nhân và các chế độ khác) và được áp dụng với phạm nhân là NCTN một cách phù hợp, không rập khuôn giống với phạm nhân thành niên. Đối với phạm nhân là NCTN, việc học tập phải được ưu tiên, chú trọng hơn, phải phát huy tối đa khả năng học tập của cá nhân NCTN bởi vì họ còn trẻ, có khả năng tiếp thu tốt và cần thiết phải tiếp tục học tập, tiếp thu tri thức cần có để có thể đảm đương vai trò xã hội của mình trong tương lai. Ngược lại, do hạn chế về sức khỏe, lao động đối với phạm nhân là NCTN phải có tính vừa sức. Mặt khác, phạm nhân là NCTN có tâm lý muốn khẳng định năng lực bản thân nên trong giáo dục phải chú trọng các biện pháp khuyến khích, khen thưởng, thi đua; trong tổ chức lao động phải đáp ứng nhu cầu khám phá, sáng tạo; trong tổ chức quản lý phạm nhân phải chú trọng sinh hoạt tập thể; cán bộ quản lý, giáo dục phải sát sao, thấu hiểu tâm lý và hoàn cảnh của từng phạm nhân là NCTN và phải là tấm gương mẫu mực trong công việc và trong cuộc sống.

Phát huy vai trò giáo dục của gia đình phạm nhân, cơ quan, tổ chức và cá nhân khác trong THAPT đối với phạm nhân là NCTN (căn cứ khoản 8 Điều 4, nội dung Điều 39, 53 của Luật THAHS 2010).

Để quán triệt chính sách trên, pháp luật THAHS phải không ngừng hoàn thiện chế độ lao động, học tập, giáo dục dành riêng đối với phạm nhân là NCTN, qui định rõ điều kiện tiêu chuẩn đối với cán bộ trực tiếp quản lý, giáo dục phạm nhân là NCTN, trách nhiệm của gia đình phạm nhân, của cơ quan, tổ chức, cá nhân khác và mối quan hệ phối hợp giữa cơ quan THAPT với những chủ thể đó. Trong thực tiễn, phải chú trọng tạo ra môi trường sống, sinh hoạt, học tập, giáo dục lành mạnh và có kỷ luật; việc xử lý vi phạm hay khen thưởng đối với phạm nhân là NCTN đều phải công minh, khách quan, vô tư và mang tính giáo dục.

Chính sách về việc chấp hành án của phạm nhân

Vì THAPT là một quá trình diễn ra qua nhiều năm tháng nên ngoài vấn đề chính sách về giam giữ, giáo dục phạm nhân còn có nhiều vấn đề khác liên quan đến đời sống hàng ngày của phạm nhân cần phải được điều chỉnh, như: sinh hoạt (ăn, mặc, ở, hoạt động thường ngày), vui chơi giải trí, đời sống tình cảm con người (với thân nhân, người khác), bảo vệ sức khỏe, tiếp cận thông tin, vấn đề quan hệ dân sự, tôn giáo và tín ngưỡng v.v… Những định hướng, chủ trương về giải quyết những vấn đề nói trên sẽ là cơ sở xây dựng các chế độ CHAPT của phạm nhân.

Chính sách về việc chấp hành án đối với phạm nhân là NCTN có nội dung cơ bản là:

Bảo vệ phạm nhân là NCTN an toàn trước các nguy cơ bị xâm hại, hành hạ, ngược đãi, bỏ mặc, lạm dụng, bóc lột sức lao động và các hành vi khác vi phạm quyền trẻ em (căn cứ khoản 1 Điều 37 Hiến pháp 2013);

Huy động sức mạnh tổng hợp của Nhà nước, gia đình và xã hội vào việc bảo vệ, chăm sóc phạm nhân là NCTN (căn cứ khoản 1 Điều 37 Hiến pháp 2013);

Phạm nhân là NCTN được hưởng chính sách ưu tiên hơn phạm nhân thành niên, bảo đảm những lợi ích tốt nhất nhằm tạo điều kiện cho họ tiếp tục phát triển thể chất, nâng cao trí lực, duy trì và phát triển các mối quan hệ gia đình và xã hội, tiếp cận thông tin phù hợp, có định hướng giáo dục và hạn chế tác động mặt trái của chế độ giam giữ tập trung trong trại giam.

Tuy vậy, trong điều kiện lịch sử cụ thể, đến nay pháp luật THAHS Việt Nam chỉ mới tập trung thể chế hóa nội dung chính sách nói trên vào các chế độ sinh hoạt, vui chơi giải trí, bảo vệ sức khỏe, tiếp cận thông tin, giữ mối liên hệ với gia đình của phạm nhân là NCTN trong những phạm vi, mức độ nhất định và còn nhiều qui định mang tính hình thức, định tính. Các chế độ chấp hành án của phạm nhân là NCTN cần được tiếp tục nghiên cứu, bổ sung, phát triển hơn nữa cho phù hợp với sự phát triển kinh tế - xã hội và yêu cầu hội nhập quốc tế của đất nước hiện nay.

- Chính sách về chuẩn bị tái hòa nhập cộng đồng

Mục đích của hình phạt tù sẽ không đạt được và toàn bộ các hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án sẽ bị mất giá trị và ý nghĩa của nó nếu như cuối cùng, người chấp hành xong án phạt tù không hòa nhập trở lại với đời sống xã hội. Chính sách về chuẩn bị tái hòa nhập cộng đồng xuất phát từ quan điểm coi người CHAPT vẫn là một thành viên của xã hội và bởi hạn chế của hoàn cảnh đang CHAPT trong trại giam, cần phải tạo điều kiện giúp họ có khả năng đảm đương vai trò xã hội của mình trong tương lai sau khi chấp hành xong án phạt tù. Đối với phạm nhân là NCTN, hoạt động chuẩn bị tái hòa nhập cộng đồng càng có ý nghĩa to lớn hơn vì họ còn trẻ, cuộc đời còn dài, sau khi chấp hành xong án phạt tù, hoặc xã hội sẽ đón nhận trở lại một lao động trẻ, hoặc xã hội phải nhận một người tiềm ẩn khả năng tái phạm cao. Do đó, nhà nước cần có chính sách về chuẩn bị tái hòa nhập cộng đồng đúng đắn, phù hợp để định hướng, chỉ đạo có hiệu quả đối với hoạt động xây dựng và áp dụng pháp luật THAHS.

Nội dung chính sách chuẩn bị tái hòa nhập cộng đồng cho phạm nhân là NCTN là:

Chuẩn bị tái hòa nhập cộng đồng phải được thực hiện chủ động trong quá trình THAPT và có nội dung rộng rãi, bao gồm mọi công việc cần thiết, có tác dụng giúp phạm nhân là NCTN sau khi chấp hành xong án phạt tù thì nhanh chóng hòa nhập với cộng đồng nơi cư trú, có khả năng tự nuôi sống bản thân và không tiếp tục phạm tội;

Huy động sức mạnh tổng hợp của Nhà nước, gia đình phạm nhân và xã hội vào việc chuẩn bị các điều kiện cần thiết để phạm nhân tái hòa nhập cộng đồng sau khi chấp hành xong án phạt tù (căn cứ vào khoản 2 Điều 39 Luật THAHS 2010);

Phạm nhân là NCTN được ưu tiên trong các hoạt động chuẩn bị tái hòa nhập cộng đồng.

Để quán triệt chính sách trên, pháp luật THAPT phải hoàn thiện các qui định về chuẩn bị tái hòa nhập cộng đồng, trong đó cần xác định các nội dung cụ thể của hoạt động chuẩn bị tái hòa nhập cộng đồng, chủ thể thực hiện và cơ chế thực hiện những nội dung đó. Các qui định cần phải thiết thực, tránh hình thức.

nhận ngay bộ tài liệu tham khảo phù hợp nhất với bạn

Hotline: 0912 309 689
Đinh Hà Uyên Thư Bạn hãy tham khảo website https://tailuanvan.com để rõ hơn công việc của tôi nhé !
Bình luận đánh giá
Đánh giá

Chat với chúng tôi qua zalo