Những vấn đề lý luận về dịch vụ vận tải hàng không quốc tế

Đinh Hà Uyên Thư 26/11/2020 Tài liệu luận văn khác
  • Những vấn đề lý luận về dịch vụ vận tải hàng không quốc tế
    5/5 (1 đánh giá ) 0 bình luận

Trong bài viết sau đây, tailuanvan.com xin chia sẻ đến bạn những vấn đề lý luận về dịch vụ vận tải hàng không quốc tế. Bao gồm: Khái niệm, đặc điểm, vai trò và tác dụng.

1. Khái niệm về vận tải hàng không và vận tải hàng không quốc tế

Vận tải hàng không nói theo nghĩa rộng là sự tập hợp các yếu tố kinh tế kỹ thuật nhằm khai thác việc chuyên chở bằng máy bay một cách có hiệu quả. nếu nói theo nghĩa hẹp thì vận tải hàng không là sự di chuyển của máy bay trong không gian hay cụ thể hơn là hình thức vận chuyển hành khách, hàng hoá, hành lý, bưu kiện từ một địa điểm này đến một địa điểm khác bằng máy bay; và sản phẩm trong kinh doanh vận tải hàng không là loại hình dịch vụ.

Theo nghị định thư Hague sửa đổi công ước Vacsava: “Vận chuyển quốc tế tức là bất kỳ việc vận chuyển nào mà theo sự thỏa thuận giữa các bên, nơi khởi hành và nơi đi đến, dù có hay không sự gián đoạn vận chuyển hay chuyển tải, nằm trên lãnh thổ của hai quốc gia thành viên hoặc trên lãnh thổ của một quốc gia thành viên nhưng có một nơi dùng đã thỏa thuận nằm trên lãnh thổ của một quốc gia khác, dù nước đó không phải là nước thành viên”[25]

2. Đặc điểm của vận tải hàng không

Vận tải hàng không là một bộ phận của ngành vận tải nên mang những đặc điểm chung của ngành vận tải như [6 – trang 7]:

Môi trường sản xuất là không gian, luôn di động chứ không cố định như trong các ngành khác.

Sản xuất trong vận tải là quá trình tác động về mặt không gian vào đối tượng lao động chứ không phải tác động về mặt kỹ thuật, do đó không làm thay đổi hình dáng kích thước của đối tượng lao động.

Sản phẩm vận tải không tồn tại dưới hình thức vật chất và khi sản xuất ra là được tiêu dùng ngay. Hay nói cách khác sản phẩm vận tải mang tính vô hình. Trong ngành vận tải, sản xuất và tiêu thụ diễn ra đồng thời, do đó không có khả năng dự trữ sản phẩm vận tải để tiêu dùng về sau mà chỉ có khả năng dự trữ năng lực vận tải mà thôi.

Quá trình sản xuất của ngành vận tải không tạo ra sản phẩm vật chất mới mà chỉ làm thay đổi vị trí của hàng hóa và qua đó làm tăng giá trị của hàng hóa. Ngoài những đặc điểm của chung của ngành vận tải thì vận tải hàng không còn mang những đặc điểm đặc thù riêng:

Tuyến đường trong vận tải hàng không là không trung và hầu như là đường thẳng, không phụ thuộc vào địa hình mặt đất, mặt nước, không phải đầu tư xây dựng. Thông thường, tuyến đường vận tải hàng không bao giờ cũng ngắn hơn tuyến đường sắt và đường ô tô khoảng 20% và tuyến đường sông khoảng 10%

Tốc độ vận tải hàng không cao, thời gian vận chuyển ngắn.

Vận tải hàng không có tính an toàn cao so với các phương thức vận tải hàng không khác, vì do thời gian vận chuyển ngắn, trang thiết bị vận chuyển hiện đại nhất, máy bay ở độ cao trên 9000 m trên từng điện ly, nên trừ lúc cất cánh, hạ cánh, máy bay hầu như không bị tác động bởi các điều kiện thiên nhiên như: sét, mưa, bão, … trong hành trình chuyên chở.

Vận tải hàng không sử dụng công nghệ cao: do có tốc độ cao, phục vụ chuyên chở hành khách, một số hàng hóa có giá trị cao, hàng cứu trợ khẩn cấp … là chính, nên đòi hỏi phải an toàn tuyệt đối trong quá trình chuyên chở. Vận tải đường hàng không không cho phép sai sót dù là nhỏ nhất, vì thế vận tải đường hàng không đòi hỏi những tiêu chuẩn rất khắt khe về công nghệ kỹ thuật.

Vận tải hàng không cung cấp các dịch vụ có tiêu chuẩn chất lượng cao hơn hẳn so với các phương thức vận tải khác và được đơn giản hóa về thủ tục, giấy tờ do máy bay bay thẳng, ít qua các trạm kiểm tra, kiểm soát …

Tuy vận tải hàng không có những ưu điểm vượt trội so với các phương tiện vận tải khác, song vẫn một số hạn chế nhất định cần được lưu ý:

Cước vận tải đường hàng không cao nhất, do chi phí trang thiết bị hiện đại, chi phí sân bay, chi phí khấu hao máy bay, chi phí dịch vụ khác rất cao.

Vận tải đường hàng không bị hạn chế đối với việc chuyên chở hàng hóa có khối lượng lớn, hàng hóa cồng kềnh, do máy bay có trọng tải và dung tích không lớn.

Vận tải đường hàng không đòi hỏi đầu tư lớn về cơ sở vật chất kỹ thuật, phương tiện máy bay, sân bay, đào tạo nhân lực, xây dựng hệ thống kiểm soát thông lưu, đặt chỗ toàn cầu, chi phí tham gia các Tổ chức quốc tế về hàng không …

3. Vai trò và tác dụng của vận tải hàng không đối với nền kinh tế quốc dân 

Vận tải nói chung và vận tải hàng không nói riêng có vai trò rất quan trọng đối với nền quốc dân của mỗi quốc gia, cũng như đối với nền kinh tế thế giới, đặc biệt góp phần thúc đẩy tiến trình buôn bán quốc tế, du lịch quốc tế và hội nhập giữa các quốc gia và vùng lãnh thổ. Đối với Việt Nam, ngành dịch vụ hàng không còn hết sức non trẻ, thực sự mới chỉ phát triển từ năm 1991. Trước đó, phần lớn các dịch vụ chuyên chở hành khách và hàng hóa quốc tế là do các hãng hàng không nước ngoài thực hiện. Từ năm 1991 cho đến nay, Việt Nam đã phát triển thêm 6 hãng hàng không trong nước: Hãng hàng không quốc gia Việt Nam (Việt Nam Airlines), công ty hàng không Jetstar Airline, công ty bay dịch vụ hàng không (VASCO), công ty cổ phần hàng không Vietjet (Vietjet Air), hãng hàng không Đông Dương Indochina Airlines, hãng hàng không tư nhân Mekong Air (mới được thành lập). Trong đó Việt Nam Airlines là hãng hàng không quy mô, hiện đại nhất và chiếm thị phần lớn về thị phần dịch vụ hàng không.

Tuy là một ngành non trẻ, nhưng vận tải hàng không lại có một tốc độ phát triển đáng kinh ngạc và trở thành một ngành mũi nhọn đối với sự phát triển của đất nước. Có thể nói ngành hàng không giống như huyết mạch góp phần thúc đẩy buôn bán quốc tế, giao lưu văn hóa … giữa Việt Nam với các nước trên thế giới. Ngoài ra vận tải hàng không còn phục vụ tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội như: sản xuất lưu chuyển hàng hóa, tiêu dùng, quốc phòng do đó mà trình độ phát triển của ngành vận tải hàng không phản ánh trình độ phát triển của một quốc gia. Vai trò của vận tải hàng không trong nền kinh tế quốc dân biểu hiện rõ nét ở các khía cạnh sau:

Vận tải hàng không là nhân tố thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế quốc dân. Điều này được thể hiện rất rõ khi mà sự phát triển của ngành hàng không kéo theo sự phát triển của nhiều lĩnh vực kinh tế của khác. Ngoài ra vận tải hàng không góp phần khắc phục sự phát triển không đều giữa các vùng trong cả nước, điều chỉnh cân đối giữa các vùng, tạo lập được sự gắn kết giữa các vùng mới khai thác với các Vùng kinh tế trọng điểm. Góp phần giảm bớt sự chênh lệch giá giữa các vùng, làm tăng giá trị hàng hoá đối với các vùng trước đây mạng lưới giao thông yếu kém, đồng thời tạo điều kiện nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân vùng núi, vùng sâu, vùng xa. Vận tải hàng không có thể vận chuyển nhanh chóng những hàng hoá và vật phẩm cần thiết chi viện cho những vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số kém phát triển để những vùng đó có điều kiện phát triển kinh tế.

Mặt khác vận tải hàng không còn là một mắt xích quan trọng để liên kết các phương thức vận tải, tạo ra khả năng kết hợp các phương thức vận tải với nhau như: vận tải hàng không/ vận tải biển, vận tải hàng không/ vận tải ô tô ... nhằm khai thác được lợi thế của các phương thức vận tải.

Vận tải hàng không là một điển hình về mối quan hệ kinh tế quốc tế, có khả năng kết nối nhiều cùng trong một quốc gia và nhiều quốc gia, những khu vực trên thế giới, phục vụ cho các hoạt động kinh tế như nhu cầu đi lại, du lịch, xuất nhập khẩu, đầu tư nước ngoài. Mở đường hàng không cũng có nghĩa là mở rộng hợp tác về kinh tế, quan hệ chính trị và giao lưu văn hoá xã hội, tạo ra hệ thống giao thông đối ngoại bước đầu đảm bảo được nhu cầu giao lưu kinh tế giữa nước ta với các nước trong khu vực và trên thế giới, từng bước hội nhập với mạng lưới giao thông khu vực và trên thế giới.

Bên cạnh đó, ngành vận tải hàng không còn đóng góp đáng kể vào cán cân thanh toán quốc tế. Các khoản thu từ việc vận chuyển hành khách, hàng hóa, hành lý và bưu kiện bằng đường hàng không đã đem lại nguồn ngoại tệ khá lớn cho đất nước. Vận tải hàng không càng phát triển thì lượng thì lượng thu ngoại tệ về cho đất nước càng nhiều. Do đó việc nâng cao hiệu quả trong kinh doanh vận tải hàng không cũng như việc quản lý doanh thu hiệu quả là một biện pháp tái đầu tư từ trong nội lực của mỗi hãng hàng không, đặc biệt là các hãng hàng không đang phát triển như Vietnam Airlines.

4. Khái niệm và những đặc điểm của dịch vụ hàng không

Dịch vụ hàng không là một bộ phận của dịch vụ nói chung, dịch vụ hàng không bao gồm: dịch vụ chuyên chở hàng hóa và dịch vụ chuyên chở hành khách bằng đường hàng không. Xét dưới góc độ là sản phẩm lao động xã hội thì dịch vụ hàng không cũng được mua bán trên thị trường và có đầy đủ những thuộc tính của hàng hóa thông thường. Dịch vụ hàng không là một loại sản phẩm để nhằm thỏa mãn nhu cầu đi lại, du lịch, buôn bán, trao đổi hàng hóa … nên nó có giá trị sử dụng. Để tạo ra được dịch vụ hàng không thì người cung cấp dịch vụ phải hao phí lao động sống của mình và lao động quá khứ được hiện hữu trong các trang thiết bị được sử dụng trong quá trình phục vụ, vì vậy dịch vụ hàng không có thuộc tính giá trị. Tuy nhiên, dịch vụ hàng không vẫn là một bộ phận cấu thành nên dịch vụ nói chung nên nó mang đầy đủ những đặc điểm của sản phẩm dịch vụ nói chung:

Tính vô hình (Intangibility): có nghĩa là khách hàng không nhìn thấy, không sờ quyết định mua dịch vụ. Dịch vụ không tồn tại dưới dạng vật thể. Điều này rất khó để có thể định thấy được, không nếm được, không ngửi thấy và không nghe thấy trước khi nghĩa một cách chính xác thế nào là dịch vụ tốt nhất đối với khách hàng, khách hàng chỉ có thể biết chính xác chất lượng của dịch vụ khi họ sử dụng dịch vụ đó. Tính vô hình của dịch vụ được biểu lộ qua yếu tố vật chất nào đó và đó chính là những phương tiện chuyển giao dịch vụ cho khách hàng.

Tính không thể tách rời (Inseparability): nếu như quy trình sản xuất rồi mang đi tiêu thụ của sản phẩm hàng hóa cơ bản đó là: sản xuất – lưu kho – bán – tiêu dùng. Thì đối với dịch vụ lại ngược lại, dịch vụ được đem ra bán trước, quá trình sản xuất và quá trình tiêu thụ diễn ra đồng thời, hay nói cách khác sản phẩm dịch vụ song trùng hoạt động cung cấp dịch vụ. Khách hàng cũng tham gia vào hoạt động sản xuất cung ứng dịch vụ cho mình. Vì thế có thể nói việc tạo ra sản phẩm dịch vụ và việc tiêu dùng sản phẩm dịch vụ là một thể thống nhất. Có thể thấy việc sản xuất cung ứng dịch vụ phải thận trọng, phải có nhu cầu, có khách hàng thì quá trình sản xuất mới có thể thực hiện được.

Tính không đồng nhất (Inconsistency): Tính không đồng nhất ở đây có nghĩa là chất lượng dịch vụ không phải lúc nào cũng giống nhau, do sản phẩm dịch vụ có tính đặc thù, phi tiêu chuẩn hóa và có giá trị cao. Chất lượng sản phẩm dịch vụ phụ thuộc vào người cung ứng dịch vụ, địa điểm cung ứng, thời gian cung ứng và đối tượng khách hàng được cung ứng. Việc tiêu dùng dịch vụ tới mức nào lại phụ thuộc vào từng khách hàng. Hơn nữa do đặc tính dịch vụ không hiện hữu nên không thể đo lường và qui chuẩn hóa chất lượng cụ thể như sản phẩm hàng hóa được. Vì thế sản phẩm dịch vụ không đồng nhất.

Tính không lưu giữ được (Perishability) và nhu cầu biến động (Fluctuating demand): sản phẩm dịch vụ không tồn tại vật chất nên không thể cất giữ, cũng như không thể vận chuyển từ địa điểm này đến địa điểm khác. Chỗ trống trên máy bay, bàn trống trong nhà hàng … là những ví dụ điển hình của sự biến mất vĩnh viễn của những sản phẩm dịch vụ. Tính tức thời của hoạt động dịch vụ sẽ không phải là vấn đề nếu như nhu cầu đối với sản phẩm dịch vụ đó ổn định. Nhưng khi nhu cầu thay đổi thì những nhà cung cấp dịch vụ phải gặp rất nhiều khó khăn.

Tính không sở hữu được (Lack of ownership): Người sử dụng dịch vụ không thể sở hữu đối với dịch vụ đó, vì hoạt động cung ứng dịch vụ đi kèm với hoạt động sản xuất dịch vụ đó bao gồm: con người, trang thiết bị … Ví dụ cụ thể như: khách hàng không thể giữ lại nhà hàng sau khi đã dùng bữa hay không thể giữ lại máy bay sau khi đã đi trên chiếc máy bay đó. Chính vì vậy mà những người cung cấp dịch vụ phải đem lại dịch vụ đáp ứng được nhu cầu của khách hàng, để từ đó khách hàng có thể gợi nhớ được cảm giác và ấn tượng phục vụ tốt nhất.

Dịch vụ vận tải hàng không là một bộ phận cấu thành nên dịch vụ nên mang tất cả những đặc điểm cơ bản của dịch vụ như đã nêu ở trên: Tính vô hình, tính không đồng nhất, tính không lưu giữ được và nhu cầu biến động, tính không sở hữu được.

Nguồn: tailuanvan.com

nhận ngay bộ tài liệu tham khảo phù hợp nhất với bạn

Hotline: 0912 309 689
Đinh Hà Uyên Thư Bạn hãy tham khảo website https://tailuanvan.com để rõ hơn công việc của tôi nhé !
Bình luận đánh giá
Đánh giá

Chat với chúng tôi qua zalo